Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Những nhân chứng lịch sử không lặng im

Dũng sĩ diệt Mỹ Nguyễn Ngọc Loan mang trên mình những vết thương chiến tranh và một bên chân giả. Mỗi bước đi đều nặng nhọc, nhưng ký ức về những năm tháng chiến đấu vẫn nguyên vẹn trong ông. Từ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 ở Huế, cuộc chiến giữ làng Siêu Quần đến những trận đánh khốc liệt trên đất Lào, cuộc đời người lính Trung đoàn 9 - Cù Chính Lan là một phần ký ức sống động về một thế hệ đã hiến dâng tuổi thanh xuân cho Tổ quốc.

Quảng Trị13/08/2026Nguỵ Thị Hà Trang (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh UBND tỉnh Quảng Trị)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cuộc hội ngộ giữa “địa ngục trần gian”

Dáng người cao lớn, giọng nói hào sảng, nhưng mỗi bước chân của ông Nguyễn Ngọc Loan đều nặng nề. Một bên chân giả cùng những vết sẹo in hằn khắp cơ thể là dấu tích của những năm tháng ông từng sống giữa chiến trường.

Tháng 7/1967, chàng trai Nguyễn Ngọc Loan, quê Xuân La, Tây Hồ, Hà Nội, vừa tròn 20 tuổi đã lên đường nhập ngũ. Cuối năm ấy, ông được bổ sung vào Trung đoàn 9 - Cù Chính Lan, đơn vị do đồng chí Lê Khả Phiêu làm Chính ủy kiêm Trung đoàn trưởng.

Ông được biên chế vào Đại đội 2, đơn vị chủ công tham gia chiến đấu trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 tại thành phố Huế.

Những ngày đầu năm 1968, chiến trường Huế diễn ra vô cùng ác liệt. Các mũi tiến công đồng loạt nổ súng. Chỉ trong những ngày đầu, quân ta đã giành quyền kiểm soát nhiều mục tiêu quan trọng của thành phố.

Đại đội 2 nhận nhiệm vụ đánh chiếm cầu Tràng Tiền. Trước trận đánh, các chiến sĩ đã dự kiến sẽ phải đối mặt với hỏa lực mạnh của địch ở hai đầu cầu.

“Lúc học sa bàn, anh em đều xác định trận đánh sẽ rất ác liệt vì đầu cầu bên kia có hai khẩu đại liên liên tục bắn sang. Nhưng thực tế khi đánh cầu lại khá thuận lợi”, ông Loan nhớ lại.

Sau loạt đạn đầu tiên của đối phương, Đại đội trưởng Trịnh Đình Thảo và Chính trị viên Vũ Xuân Sinh hô lớn: “Tên lửa đâu, bắn!”.

Bị đánh bất ngờ, quân địch tháo chạy. Những người lính Đại đội 2 nhanh chóng vượt qua cầu Tràng Tiền, tiếp tục tiến sâu vào thành phố.

Nhưng khi nhiều mục tiêu quan trọng đã được kiểm soát, vẫn còn một nơi khiến những người lính không khỏi nóng lòng: nhà lao Thừa Phủ.

Khi ấy, hàng nghìn cán bộ, đảng viên và du kích của ta vẫn đang bị giam cầm tại đây. Nhà lao được bố phòng nghiêm ngặt, các phòng giam còn bị cài mìn Claymore. Chỉ cần kích nổ, tính mạng hàng nghìn người bị giam giữ có thể bị đe dọa.

Rạng sáng 2/2/1968, Đại đội 2 tiến vào khu vực nhà lao. Ông Loan nhận nhiệm vụ mang theo quả bộc phá nặng 5 kg để đánh các lô cốt chủ lực của địch.

Cửa nhà lao bị khóa chặt. Điện đã bị cắt nên không thể mở cửa. Quân ta dùng B40 bắn quả thứ nhất nhưng không trúng mục tiêu; quả thứ hai cũng không phá được ổ khóa.

Khi đang chuẩn bị bắn quả thứ ba, một hàng binh bất ngờ xuất hiện.

“Mọi người theo tôi!” – người này nói và tình nguyện dẫn đường cho bộ đội vào nhà lao bằng một cửa phụ.

Cánh cửa mở ra.

“Bà con dậy đi, bộ đội giải phóng đã vào!”

Tiếng hô vang lên giữa đêm. Từ các phòng giam, những người tù đạp cửa chạy ra. Họ ùa đến ôm lấy những người lính giải phóng. Có những cuộc gặp chỉ diễn ra trong nước mắt, những cái ôm không cần lời nói.

Sau hơn nửa thế kỷ, mỗi khi nhắc lại khoảnh khắc ấy, giọng ông Loan vẫn nghẹn lại.

Đó là một trong những cuộc hội ngộ đặc biệt nhất mà ông từng chứng kiến trong đời lính.

22 người lính và danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”

Sau khi giải phóng nhà lao Thừa Phủ, cuộc chiến tại Huế vẫn tiếp diễn vô cùng khốc liệt.

Trung đoàn trưởng Trần Văn Khám hy sinh. Chính ủy Lê Khả Phiêu tiếp tục đảm nhiệm nhiệm vụ chỉ huy Trung đoàn, cùng cán bộ, chiến sĩ giữ địa bàn trong những ngày chiến đấu quyết liệt.

Ông Loan cùng 21 chiến sĩ khác của Đại đội 2 được giao nhiệm vụ giữ làng Siêu Quần, một địa bàn thuộc huyện Phong Điền, ngoại thành Huế.

Địch huy động 45 xe tăng tổ chức càn quét. Các chiến sĩ trong làng kiên cường chống trả, bắn cháy nhiều xe tăng khiến đội hình đối phương phải lùi lại.

Nhưng địch chưa từ bỏ ý định. Ba tiểu đoàn lính ngụy cùng một tiểu đoàn lính Mỹ tiếp tục được điều đến.

Trong cuộc họp chớp nhoáng, những người lính thống nhất một quyết tâm: đánh đến cùng để giữ làng.

Trận chiến diễn ra dữ dội. Cuối cùng, trước sức chống trả quyết liệt của quân ta, đối phương phải rút lui.

Sau chiến công giữ làng Siêu Quần, 22 chiến sĩ của Đại đội 2, trong đó có ông Nguyễn Ngọc Loan, được phong tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ.

Những người lính trẻ khi ấy không nghĩ nhiều về danh hiệu. Với họ, hoàn thành nhiệm vụ, giữ được trận địa và bảo vệ đồng đội mới là điều quan trọng nhất.

Một bên chân gửi lại chiến trường

Sau những trận đánh ở Huế, ông Loan tiếp tục cùng đơn vị sang chiến đấu, làm nhiệm vụ quốc tế tại Lào từ năm 1970 đến năm 1973.

Đầu năm 1973, trong một trận đánh trên cao nguyên Bôlôven, quân ta cần phá những hàng rào cuối cùng để mở đường tiến công.

Ông Loan xung phong mang bộc phá.

Sau khi đặt bộc phá, ông bò trở lại vị trí an toàn để đồng đội điểm hỏa. Đúng lúc ấy, pháo địch dội xuống dữ dội.

Ông rút súng ngắn bắn pháo hiệu, hô vang xung phong thì một quả pháo nổ sát bên. Mảnh đạn phạt thẳng vào đầu gối phải.

Đồng đội nhanh chóng băng bó và đưa ông về tuyến sau. Vết thương quá nặng, các bác sĩ buộc phải phẫu thuật cắt bỏ chân phải.

Sau những ngày điều trị, ông không còn khả năng tiếp tục chiến đấu.

Sáu năm kể từ ngày rời quê hương, người lính trẻ trở về nhà với một bên chân đã gửi lại nơi chiến trường và những vết thương chằng chịt trên cơ thể.

Trong suốt những năm chiến đấu, ông chỉ viết được hai lá thư gửi về gia đình.

“Thời kỳ đó, anh em đồng đội chúng tôi sống bên nhau, đánh giặc cùng nhau, chẳng còn thời gian mà nghĩ, mà nhớ về gia đình nhiều. Ngày Tết cũng chỉ nghĩ đến việc đánh giặc mà thôi”, ông kể.

“Tôi còn sống là may mắn hơn nhiều đồng đội”

Sau chiến tranh, ông Loan mang trên mình thương tật 75%, được công nhận là thương binh hạng 2.

Không thể tiếp tục cầm súng, ông chuyển ngành, công tác tại Trung tâm Điều dưỡng người có công thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Hà Nội, sau đó công tác tại cơ quan Bảo hiểm xã hội huyện Từ Liêm cho đến khi nghỉ hưu năm 2007.

Nhưng cuộc chiến dường như chưa bao giờ thực sự rời khỏi tâm trí ông.

Những ký ức về 26 ngày đêm chiến đấu ở Huế, những trận đánh trên đất Lào và những người đồng đội đã nằm lại chiến trường vẫn trở về trong những giấc ngủ chập chờn.

Có những đêm, ông mơ thấy mình lại cùng đồng đội hô xung phong, lao vào trận đánh. Những vết thương trên đầu, cánh tay và chân vẫn đau nhức mỗi khi trái gió trở trời.

Thế nhưng, ông chưa bao giờ xem những mất mát của mình là điều quá lớn.

Ông luôn tự nhủ: mình còn được sống, còn được trở về, đã là may mắn hơn rất nhiều những người đồng đội mãi mãi nằm lại chiến trường.

Sau này, ông nhiều lần trở lại thăm Trung đoàn 9 - Cù Chính Lan anh hùng và những đồng đội năm xưa. Ông cũng có dịp gặp lại người “anh cả” của Trung đoàn – nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu.

Ở tuổi 75, việc đi lại đã khó khăn, nhưng ông vẫn cố gắng tự đi xe máy thăm bạn bè, đồng đội.

Đặc biệt, ông tham gia Câu lạc bộ Nhân chứng lịch sử, nơi những người từng trực tiếp sống và chiến đấu trong chiến tranh cùng nhau kể lại ký ức cho thế hệ trẻ.

Bởi với ông, lịch sử không chỉ nằm trong những trang sách. Lịch sử còn nằm trong những vết sẹo trên cơ thể, trong ký ức của những người đã sống qua chiến tranh và trong những câu chuyện cần được kể lại trước khi những nhân chứng ấy lần lượt đi xa.

Người lính năm xưa đã không còn đủ sức bước nhanh, nhưng ký ức trong ông vẫn chưa bao giờ im lặng.

Bằng những câu chuyện chân thật của mình, Nguyễn Ngọc Loan và những nhân chứng lịch sử đang góp phần đưa một thời chiến tranh đến gần hơn với thế hệ hôm nay – để những người sinh ra trong hòa bình hiểu rằng, phía sau cuộc sống bình yên hiện tại là tuổi xuân, máu xương và sự hy sinh của biết bao thế hệ cha anh.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn