Những nhân chứng lịch sử năm xưa
Tôi gặp lại các ông, các bà – những nhân chứng năm xưa,
Tóc bạc trắng mà lòng đỏ lửa.
Câu chuyện kháng chiến họ kể giữa chiều quê lộng gió,
Như tiếng trống thuở quân dân họp mặt dưới gốc đa đầu làng.
Có người nói:
“Tôi mới mười bảy đã vào tổ du kích sẵn sàng,
Đêm nằm hầm bí mật, súng kíp ôm trong ngực.
Pháp càn lên, dân xã mình đứng bật,
Đánh cho chúng lùi khỏi bãi sông Lô.”
Người khác cười nhớ lại buổi đầu bỡ ngỡ,
Vai gùi thúng gạo, buộc chặt bằng dây tre.
Mưa xuống, đường rừng trơn như đổ mỡ,
Vẫn lầm lũi bước qua từng vách núi che.
“Gạo chưa tới chiến khu, chúng tôi chưa dám nghỉ.”
Một lời ấy thôi mà sáng cả trời chiều.
Có bà cụ kể chuyện suýt chết dưới bom bi,
Ngày kéo thương binh khỏi bờ suối vắng.
Mảnh đất trung du Vân Bán, tưởng bình yên phẳng lặng,
Vậy mà tiếng bom từng giật sập mái nhà tranh.
Có ông nói trong tiếng thở chậm và dài:
“Thằng Sửu làng tôi cầm lựu đạn chặn đường cho đơn vị,
Nó ngã xuống, tay còn nắm chặt cành sim tím,
Bây giờ sim trên đồi vẫn mọc tím rưng rưng.”
Mỗi câu chuyện – một đời người hóa thành ngọn lửa,
Sưởi ấm tim bao thế hệ hôm nay.
Những người dân bình dị, khi Tổ quốc gọi tên mình,
Liền trở thành chiến sĩ, chẳng đợi ai trao danh hiệu.
Vân Bán ơi!
Đồi bãi, ruộng đồng, tre xanh còn ghi dấu,
Mồ hôi cha ông đổ giữa những năm dài.
Họ giữ đất này bằng tay trần, bằng ngực trái,
Bằng lòng tin sáng như sao trời tháng Chạp.
Và hôm nay…
Dẫu bom đạn đã lùi xa về lịch sử,
Nhưng trong từng câu chuyện của các nhân chứng trở về,
Tôi thấy rõ một thời hoa lửa,
Một thời mà sống cũng hóa anh hùng.



