Bài viết

Những 'nhân chứng sống' trên mảnh đất Tây Ninh trung dũng, kiên cường

Tây Ninh01/07/2026Đoàn trường Cao đẳng nghề Tây Ninh (Đoàn trường Cao đẳng nghề Tây Ninh)4 lượt xem0 lượt chia sẻ
Những 'nhân chứng sống' trên mảnh đất Tây Ninh trung dũng, kiên cường

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua nhưng trong tâm thức của những thương, bệnh binh tại tỉnh Tây Ninh, mùa Xuân năm 1975 vẫn như một thước phim quay chậm đầy hào hùng và máu lửa. Đó là thời khắc mà ý chí quyết tâm giải phóng miền Nam hội tụ thành sức mạnh trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, quét sạch quân thù, thu non sông về một mối vào ngày 30/4 lịch sử.

“Ăn uống thì thất thường, nhưng đánh địch là rất khá”

Đó là câu nói nhẹ nhàng nhưng đầy hào khí mà ông Lê Mộng Hà - thương binh hạng 1/4, khi kể về khoảng thời gian làm nhiệm vụ bảo vệ Căn cứ Trung ương Cục miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Một câu nói tưởng chừng giản dị, mộc mạc nhưng lại khắc họa rõ nét tinh thần và sức mạnh của Bộ đội Cụ Hồ.

Giữa chiến trường Tây Ninh khốc liệt, nơi từng tấc đất đều in dấu bom cày, đạn xới, ông Lê Mộng Hà khi ấy cùng đồng đội bám trụ, chiến đấu, lập nên nhiều chiến công. Nhắc lại một thời “ăn không đủ no, ngủ không tròn giấc”, kiên cường đối mặt với xe tăng, đạn pháo, ông Hà nói: "Lúc đó, chúng tôi đi nghiên cứu mục tiêu rất kỹ, tại mình đặc công mà. Có Tỉnh đội trưởng, Tiểu đoàn trưởng cùng ngồi lại bàn phương án. Tôi khi đó là Trung đội trưởng Trinh sát, trực tiếp đi thực địa, nắm từng lối vào, từng chỗ lầy, từng hàng rào của địch.

Nghiên cứu xong, các đồng chí hỏi: “Vậy giờ đánh, cần bao nhiêu quân?”, tôi liền nói: “Ba người là đủ”.

Nghe vậy, Tỉnh đội trưởng liền hỏi: “Ông nói lý do sao đánh ba người? Mấy ông đánh giặc sao giống đánh đồ chơi vậy?”.

Ông Hà cười nhẹ khi nhớ lại nhưng ánh mắt vẫn ánh lên sự quả quyết của ngày ấy: “Tôi nói thẳng luôn: nếu cho một đại đội thì tôi không đánh được. Phương án tôi vẽ ra rồi, sơ đồ tác chiến có hết rồi, đánh kiểu này chỉ có ba người mới làm được. Đông là hỏng hết”.

Và rồi, trận đánh diễn ra đúng như những gì ông Hà tính toán. Chỉ với tổ ba người luồn sâu, đánh thẳng mục tiêu bằng bộc phá khối, đồn địch bị đánh sập trong chớp mắt trước sự mưu trí, anh dũng của Bộ đội Cụ Hồ.

Trong những năm tháng lăn lộn nơi chiến trường ác liệt, ông Hà đã nhiều lần đối mặt với ranh giới sinh tử. Trong trận giải phóng Tây Ninh tháng 4/1975, ông bị thương nặng (mất 1 mắt trái và bị thương ở người). Đối với ông Hà nói riêng hay những chiến sĩ Việt Nam nói chung, đó là cái giá mà họ sẵn sàng trả cho độc lập, tự do của dân tộc.

Từ những câu chuyện thấm đẫm khói lửa chiến tranh của ông Hà, thế hệ trẻ hôm nay không chỉ lắng nghe mà còn cảm nhận sâu sắc giá trị của độc lập, tự do, điều mà được đánh đổi bằng máu xương của cha anh đi trước.

Ủy viên Ban Chấp hành Đoàn phường Tân Ninh Nguyễn Thanh Hoàng chia sẻ với niềm xúc động và tự hào: “Được sinh ra và lớn lên trong hòa bình, tôi càng thấm thía hơn những hy sinh to lớn của thế hệ đi trước. Những ký ức chiến trường mà ông Hà kể lại không chỉ là câu chuyện lịch sử mà còn là bài học sống động về lý tưởng, lòng yêu nước và ý chí kiên cường cho thế hệ trẻ sau này”.

Không chỉ mang trên mình những vết thương, ông Hà còn mang theo cả một “gia tài” thành tích, được ghi nhận bằng những phần thưởng cao quý, như: Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Giải phóng các hạng và nhiều Huân chương Chiến sĩ vẻ vang.

Những giải thưởng trên không chỉ là sự ghi nhận của Đảng, Nhà nước mà còn là minh chứng cho một cuộc đời chiến đấu bền bỉ, kiên cường. Những vết thương có thể khiến cơ thể không còn nguyên vẹn nhưng cũng chính từ đó lại làm sáng lên phẩm chất của một người chiến sĩ đã sống, chiến đấu và cống hiến trọn vẹn cho Tổ quốc.

Hòa bình quý giá lắm!

Giác ngộ lý tưởng cách mạng từ sớm, tiếp bước 3 anh trai của mình, chàng thanh niên Trần Minh Tăng (sinh năm 1947, ngụ phường Kiến Tường) quyết định thoát ly gia đình khi vừa tròn 17 tuổi. Giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bước vào giai đoạn cam go nhất, ông chính thức đứng vào hàng ngũ quân giải phóng, bắt đầu hành trình phụng sự Tổ quốc.

Với trí thông minh và sự dũng cảm, năm 1967, ông được tin tưởng giao nhiệm vụ tại đơn vị Bảo vệ Khu ủy Khu 8, kinh qua chức vụ Tiểu đoàn phó Chính trị. Đến năm 1968, ông chuyển về Ban Chỉ huy chiến dịch tiền phương Khu 8. Trong những năm tháng rực lửa ấy, ông trực tiếp cầm súng chiến đấu, lập chiến công hiển hách khi tiêu diệt 4 tên địch.

Trong cuộc đời binh nghiệp, ký ức sâu đậm nhất của ông Tăng chính là ngày 30/4/1975 - thời khắc lịch sử mà cả dân tộc vỡ òa trong niềm vui độc lập. Khi đó, ông được giao nhiệm vụ vô cùng quan trọng: Mang thư hỏa tốc bảo vệ thông tin mật cho đơn vị.

Trên đường hoàn thành nhiệm vụ trở về, nhận được tin báo khẩn từ quần chúng Nhân dân về một toán quân địch đang tháo chạy trên xe quân sự, ông Tăng không một chút do dự. Dù lúc đó chỉ có một mình, đối mặt với quân địch vẫn còn vũ khí trong tay, ông chọn cách đối đầu trực diện.

Ông Tăng bồi hồi nhớ lại: “Lúc đó, trong đầu tôi không có khái niệm sợ hãi. Tôi chỉ nghĩ bằng mọi giá phải chặn đứng chúng, không để chúng gây thêm nợ máu trong ngày hòa bình đã cận kề”.

Với bản lĩnh đanh thép của một người chỉ huy chính trị, sau những phát súng uy hiếp, ông Tăng đã khiến toán quân địch khiếp sợ. Giữa không khí rệu rã của kẻ bại trận, trước sự quyết liệt của người chiến sĩ cách mạng, toán địch trên xe đã phải buông súng, cởi bỏ quân phục và đầu hàng vô điều kiện. Hình ảnh toán quân địch cúi đầu giao nộp vũ khí giữa nắng tháng tư năm ấy đã trở thành một biểu tượng về sức mạnh của chính nghĩa trong tâm khảm ông.

Trở về với đời thường tại vùng đất Tây Ninh anh hùng, ông Tăng tiếp tục cống hiến với vai trò hội viên Chi hội Cựu chiến binh khu phố 2, phường Kiến Tường. Dù mái đầu đã bạc, ông vẫn là tấm gương sáng về sự kiên trung, "pho từ điển sống" giáo dục truyền thống cho con cháu.

Chia sẻ về cảm xúc của một người đi qua cuộc chiến đấu khốc liệt, ông Tăng xúc động nói: “Hòa bình quý giá lắm! Tôi luôn dặn lòng phải sống sao cho xứng đáng với những đồng đội đã ngã xuống. Còn sức khỏe, tôi còn kể lại những câu chuyện về Chiến dịch Hồ Chí Minh, về sự hy sinh của thế hệ mình để các cháu thanh niên hiểu rằng: Độc lập này được đổi bằng xương máu, phải biết trân trọng và giữ gìn”.

Với những đóng góp trong suốt chặng đường cách mạng của mình, ông Tăng được Nhà nước trao tặng danh hiệu cao quý “Dũng sĩ diệt Mỹ” vào năm 1967 cùng Huân chương Quyết thắng và Huân chương Kháng chiến hạng Nhì. Gần 60 năm đứng trong hàng ngũ của Đảng, ông Tăng vẫn vẹn nguyên một lời thề son sắt. Giữa cuộc sống thanh bình hôm nay, người thương binh hạng 4/4 này vẫn âm thầm giữ lửa, để hào khí của ngày 30/4 lịch sử mãi mãi tỏa sáng mảnh đất Tây Ninh "trung dũng, kiên cường"./.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Những 'nhân chứng sống' trên mảnh đất Tây Ninh trung dũng, kiên cường | Câu chuyện thời hoa lửa