Những "phần đời" của Anh hùng Hồ Phúc Ngôn
Nhờ cơ duyên thể hiện cuốn hồi ký “Chuyện người con Hồng Phước” của Trung tá, Anh hùng LLVT nhân dân Hồ Phúc Ngôn, tôi tình cờ khám phá ra “tầng sâu tình cảm” của người anh hùng...
Nhờ cơ duyên thể hiện cuốn hồi ký “Chuyện người con Hồng Phước” của Trung tá, Anh hùng LLVT nhân dân Hồ Phúc Ngôn, tôi tình cờ khám phá ra “tầng sâu tình cảm” của người anh hùng. Ông có 3 bà vợ, nói theo cách của ông là: “Mỗi người đều gắn bó với một phần đời của tôi và họ đã hy sinh vì tôi”.
Trong căn nhà cấp 4 ẩn sâu trên đường Trần Quý Cáp (Hải Châu, Đà Nẵng), Trung tá Hồ Phúc Ngôn (tên thật là Trần Văn Lượng), nguyên Phó chỉ huy Thành đội Đà Nẵng, bồi hồi nhớ về những năm tháng chiến tranh. Đến tận bây giờ, khi đã bước qua tuổi 84 nhưng ông vẫn không dám nghĩ rằng bài thơ “Màu tím hoa sim” của nhà thơ Hữu Loan lại vận vào mình như thế.
|
Đồng đội chúc mừng nhân dịp Trung tá Hồ Phúc Ngôn (đứng giữa) được tuyên dương Anh hùng LLVT nhân dân. |
Trung tuần tháng 5-1954, sau khi tham gia đánh trận Bồ Bồ (Quảng Nam-Đà Nẵng) để chia lửa với chiến trường Điện Biên Phủ, Hồ Phúc Ngôn trở lại đơn vị. Ngay buổi tối đầu tiên, anh được Chính trị viên Đội Đặc công 11 Ngô Trọng Đãi thông báo cấp trên cho đi tranh thủ với thời gian cả đi và về 3 ngày. Sau gần 9 năm thoát ly theo cách mạng, trực tiếp chiến đấu ngay trên quê hương, bây giờ anh mới được về gặp lại người thân. Hồi hộp, nôn nao, anh không thể nào ngủ được nhưng cũng chỉ dám khẽ khàng trở mình vì sợ anh em thức giấc. Quãng đường từ thị xã Tam Kỳ nơi đơn vị đóng quân ra đến xã Hòa Liên (Hòa Vang, Đà Nẵng) quê anh dài khoảng 75 cây số, còn khá nhiều hiểm nguy vì lúc này đang trong thời gian đình chiến nên địch, ta lẫn lộn. Hồ Phúc Ngôn cải trang thành người thợ nề đi xây dựng vùng giải phóng, vừa đi, vừa chạy mất 12 tiếng đồng hồ mới ra đến Hòa Trung (Hòa Vang). Quy định lúc bấy giờ, đi tranh thủ để gặp người thân nhưng phải bảo đảm bí mật nên không thể ghé thăm nhà bởi gia đình anh đang nằm trong vùng bị địch chiếm. Do đó, anh phải nhờ bà con đi cắt chè, đốn củi nhắn hộ người nhà ngày mai lên rừng để gặp.
Hôm sau, khoảng 8 giờ sáng, đoàn nông dân đi cắt chè đã dẫn đến trước mặt anh cô thôn nữ Lê Thị Đặng, là bạn của anh trước lúc lên đường, chứ không thấy cha mẹ hoặc các em. Trước đó, hai người đã có ý phải lòng nhau, ngày chuẩn bị lên đường nhập ngũ, anh có ngỏ lời chờ đến ngày độc lập. Song gần mười năm không có tin tức, anh nghĩ rằng người ấy đã "sang sông". Vì thế, ngày gặp lại, anh vẫn coi cô như bạn cũ. Ngôn thăm dò: “Anh về phép có 3 ngày rồi đến đơn vị để tham gia hành quân vào Quy Nhơn chuẩn bị tập kết”. Đặng vẫn im lặng. Anh có linh cảm cô đang giấu một điều gì đó rất vui nên mạnh dạn ứng khẩu mấy câu thơ: “Anh ra miền Bắc gặp Cha già/ Gặp Võ Đại tướng thiết tha hiền lành/ Thương dân, thương lính hết tình/ Miền Nam anh dũng của mình nào quên”. Em ở lại đấu tranh chờ đến ngày thống nhất anh về cưới em”. Bấy giờ, cô thôn nữ mới mở lời: “Mẹ ở nhà đã cưới vợ cho anh rồi”. Hồ Phúc Ngôn giật mình hỏi: “Cưới ai rứa hả em?”. Bấy giờ đến lượt Đặng đỏ mặt, ấp úng, nói như hờn trách: “Cưới ai anh còn hỏi. Anh hứa với em khi anh còn ở đơn vị dân quân tập trung xã Hòa Liên kia mà”. Phúc Ngôn sung sướng không nói nên lời, vội ôm chầm lấy người vợ yêu quý của mình. Thời gian gặp nhau ngắn ngủi, họ chỉ kịp kể cho nhau vắn tắt những ngày đã qua. Sau khi anh lên đường nhập ngũ, chị cũng vào du kích hoạt động vùng địch hậu. Dù chưa công khai nhưng chị đã xem gia đình anh như của mình. Một hôm trời sáng trăng, Đặng xuống thăm nhà anh. Mẹ anh cất giọng buồn buồn: “Trong thời gian tới, địch sẽ bắt con gái chưa chồng lấy lính, lấy ác ôn làm chồng để ly khai cộng sản. Không biết…”. Người mẹ ngập ngừng buông câu nói, cô ấy vội tiếp lời: “Ý con cũng muốn nhưng không dám thưa với mẹ. Vì sợ mẹ cho con là con gái vô duyên, đời nhà ai con gái lại đi cưới chồng”. Mẹ anh vội xoa đầu người con gái nết na, hiền thục. Hai mẹ con tâm đầu ý hợp. Gia đình anh liền tổ chức bữa cơm mời bà con hàng xóm chung vui hạnh phúc cho đôi trẻ. Từ đó, Đặng về ở hẳn với mẹ anh. Nhưng cuộc đời làm vợ của cô thật ngắn ngủi. Năm 1954, cô bước chân về nhà chồng, niềm vui đoàn tụ phu thê chỉ diễn ra trong giây lát. Đó là lần gặp gỡ đầu tiên, cũng là lần cuối cùng của anh chị theo nghĩa vợ chồng. Bốn năm sau ngày chia tay, Hồ Phúc Ngôn trở về miền Nam chiến đấu. Khi tranh thủ trở lại quê nhà thăm mẹ, thăm vợ, anh sững sờ: “Nhìn em chẳng thấy em đâu/ Chơi vơi nấm đất một màu cỏ xanh”. Năm 1958, vợ anh đã đi về cõi vĩnh hằng với lời trăng trối: “Mẹ ơi! Khi con qua đời anh Năm ở ngoài đó có biết không?”.
Gác lại đau thương, Hồ Phúc Ngôn bước tiếp khúc quân hành của người trai nơi tiền tuyến. Những năm 1961-1964, Thành ủy Đà Nẵng phân công Tổ trinh sát đặc công của anh đi công tác phong trào cùng Huyện ủy Hòa Vang, do đồng chí Ba Thế-Huyện ủy viên, phụ trách. Nhiệm vụ của tổ là xây dựng cơ sở cách mạng ở vùng trung du và vùng ven đô thị để nắm địch, phục vụ chiến đấu, phá ấp chiến lược, diệt ác phá kìm, giành dân giữ đất. Trong một lần, khi đang nghỉ chân tại chiến khu Lỗ Trào, Hồ Phúc Ngôn bất ngờ phát hiện trong đoàn dân công tiếp tế có cô du kích Trần Thị Bán, là người dẫn đường cho các anh đêm hôm trước. Từ đó, hai người trở nên thân thiết, nhất là những lần cùng nhau xẻ núi, luồn rừng đi xây dựng cơ sở. Sự đồng điệu trong tâm hồn cũng như cùng chung lý tưởng cách mạng khiến anh mơ hồ nhận thấy một thứ tình cảm đặc biệt đang len lỏi trong trái tim. Chuyện đến tai đồng chí Ba Thế, người cán bộ huyện ủy đã nhiều lần chủ động tâm sự với anh: “Cuộc kháng chiến còn dài. Nếu cậu đồng ý xây dựng với cô Bán thì tôi rút cô ấy lên, cho đi bộ đội”. Lúc đầu, anh cũng e ngại vì mình dẫu gì cũng đã một đời vợ, sau đó ngẫm nghĩ: “Chiến tranh đã khiến mình biệt ly người vợ thứ nhất. Không lẽ cũng chiến tranh đem đến cho mình người kế tiếp?” nên mạnh dạn ướm lời cầu hôn. Chị thẹn thùng đồng ý. Mấy hôm sau, họ tổ chức đám cưới tại chiến khu, không quà tặng, không rước dâu, không ồn ào nghi lễ. Trên chiếc bàn dài của đơn vị, chỉ có bình nước trà, bao thuốc lá và gói kẹo. Số người tham dự, chứng kiến hạnh phúc lứa đôi của Hồ Phúc Ngôn-Trần Thị Bán, tính đại diện cả hai cơ quan đơn vị vừa đúng 7 người. Nhưng không vì thế mà đám cưới bớt đi phần vui vẻ, đầm ấm và hạnh phúc. Mọi người đều tin rằng, chiến tranh dù ác liệt đến đâu cũng không thể tiêu diệt được mầm hạnh phúc. Anh chị hứa với đồng chí, đồng đội khi đất nước thống nhất sẽ tổ chức cưới lại cho bõ những ngày gian lao.
Ngày 8-3-1965, Mỹ đổ quân vào Đà Nẵng, chiến tranh vì thế ngày càng ác liệt. Lính Mỹ càn quét liên tục, anh phải gửi vợ và con gái đầu lòng lên vùng đồng bào Cơ Tu ở thôn Tà Lang, Giàn Bí (Hòa Bắc, Hòa Vang) tạm trú một thời gian. Khi con gái gần một tuổi, chị đã gửi về cho ông bà nội nuôi dưỡng để tiếp tục trở lại với công việc của người lính quân y. Năm 1965, một lần lính Mỹ đi càn quét bắt nhân dân đưa vào ấp chiến lược để thanh lọc, chị Bán bị chúng giam ở nhà lao Hội An. Hai năm sau, ta tập kích nhà lao Hội An, giải vây cho hơn 1.200 đồng bào, chiến sĩ thoát ra vùng giải phóng. Chị Bán là một trong những người may mắn đó, chị trở lại căn cứ tiếp tục về làm việc cho ngành quân y tiền phương cánh Bắc Hòa Vang. Lúc ấy, Hồ Phúc Ngôn làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Đặc công 87. Thỉnh thoảng vợ chồng gặp mặt, họ thường động viên nhau công tác. Chính những ngày khó khăn, ác liệt ấy, chị đã mang bầu đứa con thứ hai. Tình hình chiến sự ở cánh Bắc Hòa Vang lúc này, ta gặp rất nhiều khó khăn vì địch bao vây, phong tỏa. Các cơ quan, đơn vị đều đói cơm, nhạt muối. Bộ đội phải ăn toàn rau rừng và củ móng ngựa suốt 3 tháng trời. Chiến khu chỉ còn một ít gạo dành để nuôi thương binh. Bộ đội, du kích thiếu ăn da xanh như tàu lá. Nhưng dẫu sao thì họ vẫn có thể ăn rau, củ, quả thay cơm. Còn thương binh thì không thể như thế. Các anh phải có chút gạo để lấy sức giành lại sự sống khỏi tay tử thần. Hồ Phúc Ngôn quyết định dùng chiến thuật đặc công đưa anh em lọt qua vùng địch, xuống nhà dân xin gạo về nuôi thương binh. Chia sẻ khó khăn với bộ đội, chị Bán cùng các nhân viên bệnh xá cũng xuống Kim Liên (Hòa Vang, Đà Nẵng) lấy gạo. Dọc đường, gặp địch phục kích, các y, bác sĩ, nhân viên bệnh xá hy sinh tất cả. Đau đớn hơn, chị Bán ra đi khi đứa con trong bụng mới gần 4 tháng. Hồ Phúc Ngôn lại mang trên mình thêm hai vành tang trắng.
Những tưởng tình duyên đã chấm hết với người cán bộ đặc công quả cảm, nhưng đến năm 1974, khi anh đang làm Quận đội trưởng Quận Nhì (Đà Nẵng), cô dân quân biệt động thành Bùi Thị Tánh đã đem lòng thương mến. Hai người đi đến hôn nhân. Sau khi tổ chức lễ cưới tại chiến khu cánh Bắc Hòa Vang, họ tạm biệt nhau để lên đường ra mặt trận. Bây giờ, khi nhớ lại những ngày tháng bi hùng, Anh hùng Hồ Phúc Ngôn chia sẻ “Người vợ thứ ba đã lấp đầy khoảng trống trong trái tim tôi và chính cô ấy đã đem đến cho tôi niềm hạnh phúc vững bền. Sau này, dù trong gian khổ, tôi vẫn luôn cảm ơn người vợ hiền đã đem cho tôi niềm tin cuộc sống”.




