Những quân y sĩ đầu tiên được Bác Hồ đến động viên
Vũ Thị Minh Ngọc
Trong cuốn “Hồi ức “của cố Giáo sư, Bác sĩ Nguyễn Sỹ Quốc có đoạn: Năm 1946, khi cách mạng còn đang ở thời kỳ “trứng nước”, theo chỉ thị của Bác Hồ, Bộ Quốc phòng bàn với Bộ Y tế tổ chức một phân đội sinh viên quân y trong Trường Đại học Y Dược để làm nòng cốt cho ngành Quân y sau này. Cục Quân y tuyển chọn được trên 20 người, biên chế thành 1 trung đội do anh Đặng Văn Việt làm Đội trưởng, tôi (Bác sĩ Nguyễn Sỹ Quốc) làm Chính trị viên.
Những quân y sĩ đầu tiên được Bác Hồ đến động viên
Trong cuốn “Hồi ức “của cố Giáo sư, Bác sĩ Nguyễn Sỹ Quốc có đoạn: Năm 1946, khi cách mạng còn đang ở thời kỳ “trứng nước”, theo chỉ thị của Bác Hồ, Bộ Quốc phòng bàn với Bộ Y tế tổ chức một phân đội sinh viên quân y trong Trường Đại học Y Dược để làm nòng cốt cho ngành Quân y sau này. Cục Quân y tuyển chọn được trên 20 người, biên chế thành 1 trung đội do anh Đặng Văn Việt làm Đội trưởng, tôi (Bác sĩ Nguyễn Sỹ Quốc) làm Chính trị viên.
Chúng tôi được mặc quân phục, đeo súng ngắn, đội mũ sao vàng và ở nội trú. Nơi ở của chúng tôi là trường mồ côi, cuối phố Hàng Chuối (Thành phố Hà Nội).
Ngày làm lễ khai mạc, đúng 9 giờ sáng, chúng tôi đã tập hợp xong, đội ngũ chỉnh tề. Anh Vũ Văn Cẩn, nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế, lúc đó là Cục trưởng Quân y đón Bác và anh Văn (tức đồng chí Võ Nguyên Giáp) vào. Trong bộ quần áo kaki giản dị, trông Bác vẫn còn gầy, vầng trán cao, mắt sáng. Bước đi của Bác rất nhanh.
Sau lễ chào cờ và báo cáo vắn tắt của anh Cẩn, Bác chỉ nói mấy câu, đại khái:
- Các chú sẽ làm thầy thuốc trong Vệ Quốc đoàn, chăm sóc sức khỏe của cán bộ và chiến sĩ. Để sau này làm được nhiệm vụ ấy, Bác khuyên các chú phải biết và thực hiện:1. Đoàn kết; 2. Tích cực; 3. Dũng cảm; 4. Nhân ái; và thứ 5: Hy sinh.
Các chú luôn nhớ mình là người chiến sĩ Vệ Quốc đoàn, người chiến sĩ Cách mạng. Các chú có nhớ không?

Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh tư liệu
- Có ạ. Tất cả đồng thanh.
- Bác chào các chú!
Một tháng sau, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Chúng tôi được gọi là quân y sĩ. Nhiều người được phân công đi chiến trường. Số còn lại theo thầy Hồ Đắc Di, thầy Tôn Thất Tùng lên Chiêm Hóa (Tuyên Quang) và hằng năm lại có thêm cán bộ quân y khác học lên bác sĩ. Mười “Chữ Vàng” của Bác Hồ căn dặn được anh em chúng tôi nhắc nhớ đến tận cuối đời.
“Sao giát giường lại cong như thế này?”
Cuối tháng 11-1946, Bác đến thăm Quân y viện Trung ương Vệ Quốc đoàn. Gọi là Trung ương, vì lúc đó nhiều địa phương đã có Quân y viện. Quân y viện Trung ương (tiền thân của Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 ngày nay) được tổ chức rất gấp (chỉ trong vòng vài tháng) ở địa điểm hiện nay là Viện Bảo vệ Bà mẹ và Trẻ sơ sinh (Bộ Y tế) ở phố Tràng Thi bây giờ, đối diện với Bệnh viện Phủ Doãn (bây giờ là Bệnh viện Việt - Đức).
Làm sao mà tổ chức được một bệnh viện gần 200 giường với hai bàn tay trắng trong một thời gian ngắn?
Chúng tôi đã tận dụng nhà cửa sẵn có, chỉ sửa chữa rất ít theo yêu cầu chuyên môn. Còn trang bị thuốc men, trang bị hậu cần thì đi xin, hoặc đi mua; có cái lấy từ các bệnh viện dân y (Đồn Thủy, Bạch Mai, Phủ Doãn); có cái do các bệnh viện tư, các dược sĩ hảo tâm biếu bộ đội.
Tôi (Cố Giáo sư, Bác sĩ Nguyễn Sỹ Quốc) nhớ, cao nhất lúc đó là mấy bộ đồ mổ, 1 máy X-quang lưu động của Pháp, 1 xe Hồng thập tự Ford V8. Nhân viên gồm có 2 bác sĩ: Nguyễn Tấn Di Trọng, Đỗ Tạo Tiềm và gần chục sinh viên quân y (gọi là quân y sĩ), vài nữ Hồng thập tự.
Mới 6 giờ sáng, Bác đã tới. Lúc đó, tôi mặc quần đùi, may ô, đang tập thể dục. Có người gọi, tôi choàng vội chiếc bờ lu trắng, tất tả đi đón.
Bác đang ở nhà bếp, xem từng thứ một: chảo cơm, thùng canh, xoong tép khô kho với khế, một vài hộp sữa. Vài cái bàn nhỏ, bẩn ơi là bẩn! Bác từ bếp bước ra. Trong nét mặt ông Cụ thoáng thấy hơi buồn buồn.
Tôi đưa Bác đi thăm từng buồng bệnh. Lúc đó Viện chỉ có 1 khoa Nội (phần lớn là bệnh nhân sốt rét), 1 khoa Ngoại, 1 khoa Lây, 1 khoa Phi lâm sàng (không gọi là Cận lâm sàng như ngày nay).
Đến buồng các thương binh nặng, Bác hỏi:
- Các đồng chí này từ đâu về?
- Thưa Bác! Từ nhiều đơn vị. Xa nhất là từ sông Cầu về và từ Trung bộ ra. Bác đến bên một giường. Lật cái chăn mỏng lên, bên dưới là một thương binh trẻ. Anh chừng 20 tuổi, gầy gò, bị gãy xương đùi phải, đang nằm ưỡn người trên một giát giường sắt cong queo, trông thật tội nghiệp!
Bác hỏi: Sao giát giường lại cong như thế này? Không ai dám trả lời. Lại là cái nhìn buồn buồn của Bác! Rồi Bác nói thêm: Nằm như vậy mệt thật đấy! Chiến sĩ mình chịu khổ đã quen rồi. Bác nói mà thấy nghèn nghẹn...
Ngay hôm đó, tôi báo cáo lại với anh Tiềm (Viện trưởng), anh Cẩn (Cục trưởng Quân y) rồi sang Bệnh viện Phủ Doãn, xin mấy chiếc giường đặc chủng để thương binh nằm điều trị.
Bác sĩ Phạm Biểu Tâm, Giám đốc Bệnh viện ủng hộ ngay. Như vậy, hóa ra là chúng tôi chưa biết đi xin, chứ không ai tiếc cái gì đối với việc phục vụ người thương binh Vệ Quốc đoàn cả...



