Bài viết

NHỮNG THÁNG NGÀY KHÔNG THỂ NÀO QUÊN

Kỷ niệm 81 năm Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22/12/1944 – 22/12/2025)

Tuyên Quang03/08/2026Phường Nông Tiến (Đoàn phường Nông Tiến)5 lượt xem0 lượt chia sẻ
NHỮNG THÁNG NGÀY KHÔNG THỂ NÀO QUÊN

CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA

(Nhóm tác giả: Ma Thị Hoài Châm, Nguyễn Hải Yến, Nguyễn Gia Huy, Phù Thị Phượng - 11G)

NHỮNG THÁNG NGÀY KHÔNG THỂ NÀO QUÊN

Kỷ niệm 81 năm Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22/12/1944 – 22/12/2025)

Ở tuổi 76, trong ký ức của người lính – Cựu chiến binh Ma Văn Lược, hội viên Chi hội Cựu chiến binh thôn Chuông, xã Hà Lang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang (cũ), nay thuộc thôn Chuông, xã Tân An, tỉnh Tuyên Quang – vẫn in đậm hình ảnh của trận đánh bi hùng tại Đồi Năm Mỏm. Ông là một trong những người lính trực tiếp tham gia Chiến dịch phòng ngự Cao nguyên Cánh đồng Chum, tỉnh Xiêng Khoảng (Lào) năm 1972.

image.png

Câu chuyện của ông bắt đầu từ sự kiện đã hơn 53 năm trôi qua kể từ chiến dịch phòng ngự Cánh đồng Chum mùa mưa năm 1972, nơi Đại đội 2, Tiểu đoàn 8 (C2_ D8) lập nhiều chiến công nhưng cũng chịu nhiều mất mát.

Ông nhập ngũ ngày 14/4 âm lịch năm 1971. Sau thời gian huấn luyện ở huyện Tân Yên, tỉnh Hà Bắc, ông được điều vào chiến trường C nước bạn Lào, thuộc Đại đội 2, Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 866 (C2_D8_E866). Đây là đơn vị bộ binh trực tiếp chiến đấu tại mặt trận Cánh đồng Chum.

Di chứng bom đạn khiến đến giờ ông không thể nhớ đầy đủ từng chi tiết, nhưng mỗi khi nhắc lại, ông vẫn không giấu nổi niềm tự hào về những ngày tháng cam go, khốc liệt của người lính tình nguyện Việt Nam sát cánh cùng quân dân Lào.

Ông hồi tưởng: năm ấy ông trực tiếp tham gia 5 trận đánh. Trận thứ 5 cũng là trận cuối cùng của đời lính. Đó là rạng sáng ngày 1/9/1972, trên cao nguyên Cánh đồng Chum. Sương mù phủ kín những cánh rừng và đồi núi trong khu vực phòng thủ của Đại đội 2. Chính tại đây diễn ra trận chiến bi tráng tại Đồi Năm Mỏm.

Qua 53 năm, đồng đội của ông người mất, người còn. Tài sản quý nhất của ông không phải là huân chương hay hiện vật, mà là ký ức về tình đồng đội – những người đã đồng hành, cưu mang và chiến đấu cùng ông. Ông nhớ lại một số đồng chí trong Đại đội 2:

 + Đ/c Trần Thân và Trần Phong: Chính trị viên đại đội

 + Đ/c Cao Văn Đại: Đại đội trưởng

 + Đ/c Đam: Đại đội phó, anh em thường gọi là "A Pơ Đam"

 + Đ/c Nguyễn Hữu Tính: Xạ thủ RPK, quê Cẩm Khê – Phú Thọ Anh bị gãy cánh tay phải, bị một viên đạn cực nhanh xuyên vào phổi phải. Đến nay, hơn 50 năm, bệnh viện Quân y 108 vẫn không thể lấy ra.

 + Đ/c Luyến: Tiểu đội trưởng. Trong trận đánh, anh vừa chỉ huy tiểu đội vừa bắn 4 viên B40 vào đội hình địch. Khi đang nạp quả thứ 5 thì trúng đạn và hy sinh tại chỗ. Ông nghẹn ngào nói: “Trận hôm đó quá bi hùng…”.

Ngày hôm ấy, địch huy động 2 GM (tương đương 2 trung đoàn) tràn lên chốt Đồi Năm Mỏm. Đại đội 2 của ta khi ấy chỉ có 2 trung đội bộ binh thiếu, quân số ít ỏi nhưng vẫn quyết tử giữ trận địa. Quân địch đông gấp hàng trăm lần.

Ông kể: “Hôm đó Đại đội 2 hy sinh 9 người, 13 người bị thương. Tôi chỉ nhớ được những đồng chí mình từng biết tên…”

Trong số thương binh, ông nhớ rõ đồng chí Ma Văn Đoàn (quê xã Hòa Phú, tỉnh Tuyên Quang). Đ/c Đoàn khi ấy làm liên lạc cho Đại đội trưởng Cao Văn Đại. Trong lúc bắt sống một tên địch, hắn bất ngờ giấu lựu đạn và ném vào hai người. Đại đội trưởng hy sinh tại chỗ, còn Đoàn bị thương nặng.

Kể đến đây, ông nghẹn lại…

Trong trận đánh ấy, ông cũng bị thương nặng: “Lúc tôi đang thay băng đạn AK thứ ba thì trúng liền ba viên đạn tiểu liên Mỹ và một quả phóng lựu. Tôi gãy cả hai chân, một viên làm vỡ vai phải, một viên trúng bi đông làm rách mông, máu be bét. Tôi nằm bất động nhưng vẫn cố đưa khẩu AK và số đạn còn lại cho Nguyễn Hữu Tính. Tính lại đưa tôi hai quả lựu đạn để phòng khi địch tràn lên còn có thể chiến đấu tới cùng.”

Trưa hôm đó, khi tiếng súng tạm ngớt, đồng đội mới có thể khiêng ông về trạm phẫu. Ngày 2/9/1972, ông được phẫu thuật lấy mảnh đạn phóng lựu khỏi chân. Sau đó, ông được chuyển về Viện 139 của nước bạn Lào, nằm điều trị 1 tháng 12 ngày, rồi tiếp tục chuyển về Viện Cây Chanh (Nghệ An) 10 ngày và sang Đoàn An dưỡng 222 (Tam Dương, Vĩnh Phúc). Do thương tật nặng, ông không thể trở lại chiến trường.

 Ký ức vẫn còn mãi…

Trong chế độ chính sách, ông được công nhận thương binh loại A, hạng 3/4, tỷ lệ thương tật 41% (Quyết định số 5068L/VC). Ngày 03/11/1973, ông được xác nhận bị nhiễm chất độc hóa học loại 3 (tỷ lệ 41%–60%) theo Quyết định số 467.

Chiến dịch phòng ngự Cánh đồng Chum – Xiêng Khoảng năm 1972, thương binh Ma Văn Lược và Đại đội 2_Tiểu đoàn 8_Trung đoàn 866 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì.

Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ, nhưng hình ảnh đồng đội của ông – những bóng người in trên rừng núi, khe suối, những năm tháng ở đất nước Triệu Voi – vẫn luôn sống mãi trong ký ức.

Khắc ghi lời Bác dạy: “Thương binh tàn nhưng không phế”, trở về địa phương, ông tiếp tục cống hiến cho công tác xã hội suốt 29 năm 10 tháng. Đến tháng 6/2024, ông nghỉ hưu trí công tác xã.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn