Những thanh xuân nằm lại với non sông 7
Còn ông Kpuih Blang, người Xã đội trưởng cấp cho Klơng khẩu súng trường đầu tiên, kể: “Cái lần cả đội đánh mìn trên đường Plei Me, diệt gần hết 1 trung đội dân vệ năm 1965 là tôi nhớ nhất. Khi bọn giặc ồ ạt tiếp viện, Tiểu đội trưởng Thia ra lệnh lui quân, đến trưa cả đội mới về đến làng, kiểm tra hàng ngũ thì thấy thiếu Klơng. Cụ Sơt quát lớn: “Đi tìm thằng Klơng với tau”. Chúng tôi ra con suối đầu làng thì gặp Klơng đang rửa vết thương. Cụ Sơt ôm Klơng vào lòng, còn Klơng thì vẫn cười: “Klơng ở lại đánh cho mọi người rút lui. Bọn giặc đông quá, bắn không được, Klơng nằm im. Thấy chúng tới gần hơn, Klơng mở lựu đạn, để xì 3 giây, tống một quả. Chúng mất đầu 3 thằng, sợ quá, bọn kia chạy hết...”. “Tại sao Klơng không nghe lời” - anh Thia hỏi. Klơng vẫn cười: “Klơng có nghe chứ. Nhưng rút cả rồi ai chặn giặc cho các anh lui. Lúc đó em bị thương rồi. Em ở lại, em chết cũng được vì em còn nhỏ, làm được ít việc. Các anh phải sống, các anh là cán bộ, làm được nhiều việc cho dân mình”.
Với vô số chiến công như thế, ngày 17 tháng 9 năm 1967, Kpă KLơng được tuyên dương và phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Khi đó, ông vừa mới 19 tuổi. Theo nhiều tài liệu lịch sử còn lưu giữ thì tính đến trước khi hy sinh (năm 1975), KLơng đã từng tham gia chiến đấu 32 trận, diệt 124 tên địch, phá huỷ 7 xe quân sự và là một trong những người diệt nhiều địch nhất trên chiến trường Tây Nguyên.
Câu chuyện về chàng trai Gia Rai Kpă KLơng anh hùng ấy đã được truyền đi khắp các bản làng Tây Nguyên, trở thành nguồn cảm hứng để nhà văn Nguyên Ngọc viết lên truyện ký “Người dũng sĩ dưới chân núi Chư Pông”. Đồng thời, ông cũng là niềm tự hào, thôi thúc thanh niên, trai tráng khắp vùng tìm đến cách mạng, tìm đến con đường giải phóng cho toàn dân tộc.



