NHỮNG TRANG HỒI ỨC NƠI TUYẾN ĐẦU - NGUYỄN ĐÌNH TINH

NHỮNG TRANG HỒI ỨC NƠI TUYẾN ĐẦU
Họ và tên: Nguyễn Đình Tinh
Năm sinh: 1944 (Hiện 82 tuổi).
Quê quán: Làng Ngọc Quế, xã Quỳnh Hoa, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
Ngày nhập ngũ: Tháng 4 năm 1963.
Chức vụ cao nhất: Tiểu đoàn trưởng.
Đối tượng chính sách: Bệnh binh chế độ 2/3 (Mất sức lao động).
Đơn vị tham gia chiến đấu: Đại đội C643 (thuộc Bộ Quốc phòng); Sư đoàn 327; Mặt trận Biên giới phía Bắc
(Bác Tinh hàng đầu, thứ 3 từ bên trái qua)
1. Bước chân vạn dặm qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ
Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất quê hương Thái Bình giàu truyền thống cách mạng, tháng 4 năm 1963, khi ngọn lửa kháng chiến chống Mỹ cứu nước bùng cháy mạnh mẽ, chàng trai trẻ Nguyễn Đình Tinh đã hăng hái lên đường tòng quân. Sau những tháng ngày huấn luyện tân binh gian khổ tại vùng đất lịch sử Điện Biên Phủ thuộc biên chế của Tiểu đoàn Nà Tấu, ông cùng đơn vị Đại đội C643 (thuộc Bộ Quốc phòng) nhận nhiệm vụ quốc tế sang giúp nước bạn Lào.
Đến năm 1969, ông trở về nước và ngay lập tức khoác ba lô tiến thẳng vào Nam (chiến trường B). Từ đây, bước chân của người lính Nguyễn Đình Tinh đã in dấu qua những tọa độ lửa khốc liệt nhất của dải đất miền Trung và Tây Nguyên: từ Kon Tum, Buôn Ma Thuột, oanh tạc đẩy lùi tàn quân địch xuống Phan Rang, Phan Thiết, rồi tiến về giải phóng tỉnh Khánh Hòa.
Sau ngày đại thắng năm 1976, ông phục viên trở về đời thường. Thế nhưng, khi biên cương phía Bắc tiếng súng xung đột nổ vang, tinh thần người lính lại thôi thúc ông tái ngũ vào năm 1978, tham gia huấn luyện tại Quảng Ninh và trực tiếp cầm súng chỉ huy chiến đấu bảo vệ biên cương cho đến năm 1983 mới chính thức về nghỉ theo chế độ mất sức.
2. Ký ức bảo vệ hành lang đường 559 và những trận đánh biệt kích mưu trí
Trong suốt cuộc đời binh nghiệp, một trong những khoảng thời gian tự hào nhất của cựu chiến binh Nguyễn Đình Tinh là những năm tháng tại chiến trường Quảng Trị. Đại đội C643 của ông khi đó nhận trọng trách đặc biệt: bảo vệ tuyến hành lang chiến lược của Đoàn 559 – con đường huyết mạch vận chuyển vũ khí, lương thực tiếp tế cho toàn miền Nam. Ghi nhận những chiến công oanh liệt đó, vào năm 1968, đơn vị của ông đã vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu “Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân”.
Nhiệm vụ cốt lõi tại đây là săn tìm và tiêu diệt lực lượng biệt kích, thám báo của địch thả dù xuống phá hoại kho tàng của ta. Ông Tinh nhớ lại, địch thường dùng trực thăng thả các toán biệt kích tinh nhuệ xuống các vùng hẻo lánh. Bằng sự mưu trí phối hợp cùng mạng lưới tình báo nhân dân du kích, cứ địch xuống là ta tóm gọn. Ông cụ cười hào sảng kể lại:
"Dân mình tinh sát, du kích giỏi lắm! Địch đổ dù xuống, bà con đứng từ xa đếm không lệch một chiếc, báo ngay cho đơn vị: 'Có đúng 34 chiếc dù vừa hạ cánh'. Lập tức, ta triển khai quân bao vây chặt bốn hướng Đông - Tây - Nam - Bắc. Địch vừa đáp xuống còn đang hoang mang hoảng sợ, đơn vị chỉ cần bắn răn đe vài băng súng tạo áp lực là chúng đã rã đám, tự động giơ tay xin hàng. Đánh như thế vừa bắt sống được địch, vừa bảo toàn được xương máu cho anh em."
3. Lằn ranh sinh tử giữa đại ngàn A Sầu, A Lưới
Nếm trải đủ gian khổ của đời lính, ông Tinh nghẹn ngào khi nhớ về kỷ niệm hành quân xuyên rừng tại thung lũng A Sầu, A Lưới (Thừa Thiên Huế) - nơi được mệnh danh là vùng "đất chết" do bom đạn và chất độc hóa học.
Khi đó, toàn đơn vị hơn 100 người đang hành quân cắt rừng. Đến khoảng 4 giờ chiều, đơn vị dừng chân bên suối để nấu cơm ăn và nghỉ ngơi. Hai chiến sĩ xuống suối múc nước và tranh thủ rửa chân thì bất ngờ bị quân địch phục kích từ trên đồi cao xả súng xối xả. Tiếng súng nổ chát chúa phá tan sự tĩnh lặng của đại ngàn. May mắn loạt đạn đầu của địch bắn trượt, đơn vị lập tức tổ chức phản công bọc lót cho đồng đội. Chính trong trận chiến cận chiến đầy nguy hiểm ấy, ông Tinh đã bị mảnh đạn găm trúng đỉnh đầu và trong một trận đánh biệt kích khác, ông bị một viên đạn M16 của địch bắn xuyên qua cánh tay.
4. Khúc tráng ca giải phóng và trận chiến "biển người" biên giới phía Bắc
Vào những ngày tháng 4 năm 1975 lịch sử, đơn vị ông Tinh (lúc này sáp nhập vào Sư đoàn 327) tiến công thần tốc về hướng Sài Gòn. Đúng 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, khi nội các Sài Gòn tuyên bố đầu hàng, cánh quân của ông đã tiến thẳng vào trung tâm, vinh dự nhận nhiệm vụ tiếp quản thành phố trong niềm hạnh phúc vỡ òa.
Hòa bình chưa được bao lâu, tiếng súng biên giới phía Bắc lại nổ. Tái ngũ năm 1978, ông Tinh trực tiếp chỉ huy một tiểu đoàn phòng thủ tại địa danh Đồng Mỏ. Ông nhớ lại cuộc chiến khốc liệt với quân xâm lược khi chúng tràn lên đông nghịt như "rận vách". Các chiến sĩ của ta đào giao thông hào phòng thủ sâu trong lòng núi, cứ cách 5 mét có một người vững tay súng, trong hầm khoét sâu chứa đầy súng trường, AK và hỏa lực đại liên. Các chiến sĩ đã chiến đấu anh dũng, bắn đỏ cả nòng súng, cho đến khi hết sạch đạn dược mới mưu trí rút lui để bảo toàn lực lượng trước vòng vây áp đảo của địch.
* THÔNG ĐIỆP GỬI LẠI CHO THẾ HỆ TRẺ HÔM NAY
Bước ra khỏi khói lửa của hai cuộc chiến tranh lớn, mang trên mình những thương tật của bệnh binh chế độ 2/3, người Tiểu đoàn trưởng năm xưa vẫn luôn giữ vững phẩm chất cao đẹp của "Bộ đội Cụ Hồ". Thông qua chuyên mục "Câu chuyện thời hoa lửa", ông nhắn nhủ tới đoàn viên, thanh thiếu nhi xã Lộc Hưng:
"Để đất nước có được hòa bình, tự do độc lập và cuộc sống bình yên như ngày hôm nay, biết bao thế hệ cha anh đi trước đã phải đánh đổi bằng cả máu xương, thịt da của mình dọc dải Trường Sơn và nơi biên cương Tổ quốc. Bác mong rằng thế hệ trẻ hôm nay - những người được sống trong hòa bình - hãy luôn khắc ghi lịch sử, ra sức học tập, rèn luyện đạo đức thật tốt. Phải sống có lý tưởng, có trách nhiệm với xã hội để xứng đáng với sự hy sinh của các thế hệ đi trước, cùng nhau chung tay xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh, văn minh."


