NHỮNG TRANG SỬ HÀO HÙNG: CHÍ SĨ VÕ OANH – BẬC TIỀN BỐI DUY TÂN YÊU NƯỚC, HẠT GIỐNG ĐỎ CỦA PHONG TRÀO ĐÔNG DU VÀ VIỆT NAM QUANG PHỤC HỘI
Trong giai đoạn đầu thế kỷ XX, khi ngọn cờ Cần Vương phong kiến dần khép lại nhường chỗ cho trào lưu dân chủ tư sản và phong trào Duy Tân bùng khởi, lớp sĩ phu tiến bộ đã dũng cảm đoạn tuyệt với lối học cử nghiệp từ chương để dấn thân tìm đường cứu nước. Sát cánh cùng các bậc chí sĩ kiệt xuất như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và Huỳnh Thúc Kháng,chí sĩ Võ Oanh (1880 – 1968, tự Bằng Cửu, hiệu Trúc Viên) – danh sĩ đất Quảng Bình – là một biểu tượng ngời sáng cho tinh thần tự lực, tự cường, bền bỉ hiến dâng trọn đời cho sự nghiệp chấn hưng văn hóa và giải phóng non sông.
Dòng dõi danh gia vọng tộc và bước ngoặt dấn thân theo con đường Duy Tân:
Sinh ra tại làng Trung Bính, xã Bảo Ninh, phủ Quảng Ninh (nay thuộc thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình), Võ Oanh là con trai của Tuần phủ Võ Khắc Triển – một vị quan thanh liêm, đức độ. Sớm nổi tiếng thông minh đĩnh ngộ, am hiểu tân thư và Nho học, ông đã vượt qua các kỳ thi cử nhưng không màng chốn quan trường danh lợi.Trước cảnh đất nước rên xiết dưới gót giày thực dân, ông nhanh chóng tiếp thu tư tưởng canh tân tiến bộ, đứng vào hàng ngũ những người tiên phong cổ vũ phong trào Duy Tân tại Trung Kỳ.
Trụ cột xuất dương trong phong trào Đông Du và Việt Nam Quang Phục Hội:
Đầu những năm 1900, hưởng ứng lời hiệu triệu của cụ Phan Bội Châu, chí sĩ Võ Oanh đã bí mật xuất dương sang Nhật Bản tham gia phong trào Đông Du. Tại xứ sở hoa anh đào, ông vừa tích cực học tập quân sự, khoa học chính trị hiện đại tại các trường học Đông Kinh, vừa dốc lòng cùng Phan Bội Châu quản lý du học sinh Việt Nam, liên lạc với giới sĩ phu tiến bộ châu Á.
Khi phong trào Đông Du bị chính quyền Nhật Bản câu kết với thực dân Pháp trục xuất (1908 – 1909), ông cùng cụ Phan chuyển sang Trung Quốc, Xiêm (Thái Lan) để gây dựng lại lực lượng. Đến năm 1912, khi Việt Nam Quang Phục Hội được thành lập tại Quảng Châu, chí sĩ Võ Oanh được bầu vào ban lãnh đạo cốt cán, giữ cương vị Ủy viên Quân vụ kiêm phụ trách công tác tài chính và liên lạc trong nước, can trường tổ chức các hoạt động vũ trang chống thực dân Pháp.
Khí phách kiên trung trước ngục tù đế quốc:
Trong quá trình hoạt động bí mật đưa tài liệu, vũ khí và đón thanh niên yêu nước xuất dương, ông bị mật thám Pháp theo dõi và bắt giữ. Triều đình bù nhìn tay sai cùng thực dân Pháp đã dùng mọi thủ đoạn mua chuộc, đe dọa, kết án khổ sai lưu đày ông qua nhiều nhà lao khắc nghiệt.
Thế nhưng, trước đòn thù tàn bạo, chí sĩ Võ Oanh vẫn giữ vững khí tiết kẻ sĩ quật cường: kiên quyết không khuất phục, không cung khai bất kỳ cơ sở hay đồng chí nào của phong trào. Tinh thần gang thép của ông đã biến chốn lao tù thành nơi tôi luyện ý chí ái quốc, làm nể phục cả bạn tù lẫn những kẻ coi ngục.
Trọn đời thủy chung với sự nghiệp phụng sự dân tộc:
Sau khi được trả tự do, dù bị quản thúc chặt chẽ và tuổi cao sức yếu, ông vẫn một lòng hướng về độc lập dân tộc,âm thầm giúp đỡ các phong trào cứu quốc của thế hệ thanh niên cách mạng kế cận. Trong cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946, ông được nhân dân tín nhiệm bầu làm Đại biểu Quốc hội khóa I, tiếp tục đóng góp uy tín và trí tuệ cho sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân và cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc.
Cuộc đời của chí sĩ Võ Oanh là tấm gương mẫu mực về đức hy sinh cao cả, lòng trung kiên bất khuất, tinh thần vượt khó vươn lên tiếp thu cái mới để phụng sự giống nòi.
Tên tuổi của chí sĩ Võ Oanh ngày nay được trang trọng đặt cho các tuyến đường tại Thành phố Hồ Chí Minh (quận Bình Thạnh) và thành phố Đồng Hới (Quảng Bình), ghi tạc muôn đời công đức của người con ưu tú đã trọn đời tận tụy vì độc lập, tự do của dân tộc.



