Những trang viết dở giữa dòng lũ
Những trang viết dở giữa dòng lũBảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam hiện đang lưu giữ cuốn sổ tu dưỡng Đảng viên – di vật của Anh hùng, liệt sĩ, Trung tá Lê Văn Phượng – Trợ lý Chính trị Ban Chỉ huy Quân sự thị xã Quảng Trị, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng trị đã sử dụng ghi lại trong những buổi sinh hoạt chi bộ từ năm 2008 đến năm 2009. Ngày 30/9/2009, trong cơn bão số 9 (bão Ketsana), đồng chí đã anh dũng hy sinh khi cứu giúp nhân dân trong cơn lũ lụt.
Sổ tu dưỡng Đảng viên – Hành trình của một người lính, một đảng viên Giữa những kỷ vật còn lưu giữ về liệt sĩ Lê Văn Phượng – Trợ lý Chính trị Ban Chỉ huy Quân sự thị xã Quảng Trị có một cuốn sổ nhỏ, bìa đỏ, kích thước chỉ 15x20,5cm, giấy kẻ ngang ngay ngắn và một cây bút dài 14 cm đã mòn đi theo năm tháng. Nhỏ bé, giản dị, không quý giá về vật chất, nhưng chúng chứa đựng cả một hành trình sống, một đời cống hiến âm thầm mà kiên cường của anh một người lính, người đảng viên tận tụy vì Tổ quốc, vì nhân dân.
Sổ tu dưỡng đảng viên và bút của Trung tá Lê Văn Phượng. Cuốn sổ tu dưỡng đảng viên vốn chỉ là công cụ để mỗi người tự ghi chép, tự kiểm điểm quá trình rèn luyện. Nhưng với anh Phượng, nó là nơi để gửi gắm những trăn trở, những suy tư về công việc, về cuộc đời; là chỗ để anh đặt ra mục tiêu, tự nhắc mình sống và làm việc xứng đáng với danh hiệu người lính Cụ Hồ. Mỗi buổi sinh hoạt chi bộ, anh cẩn trọng mở cuốn sổ ấy, cầm cây bút quen thuộc viết từng dòng ngay ngắn. Nét chữ giản dị, rõ ràng, phản chiếu tính cách chủ nhân là nghiêm túc, chu toàn, không cầu kỳ nhưng đầy tâm huyết. Những năm 2008–2009, trên cương vị Trợ lý Chính trị, anh là cầu nối giữa Đảng và từng cán bộ, chiến sĩ. Anh tổ chức tuyên truyền, giáo dục chính trị, xây dựng phong trào thi đua, động viên bộ đội vượt qua khó khăn; anh lo đời sống tinh thần cho đồng đội. Và cuốn sổ cùng cây bút kia luôn đồng hành cùng anh trong phòng họp, trong ba lô công tác, hay giữa những chuyến dã ngoại huấn luyện xa. Ngày 29/9/2009, bão Ketsana ập vào miền Trung. Anh gấp cuốn sổ lại, để nguyên trong ngăn bàn làm việc. Chưa kịp viết thêm dòng nào, bởi anh đang khẩn trương cùng đồng đội chuẩn bị ứng cứu nhân dân. Hôm ấy, dù có giấy nghỉ phép để về quê lo cho gia đình đang bị lũ, anh vẫn xin ở lại đơn vị chống bão quyết định xuất phát từ sâu thẳm tinh thần “vì dân” của người đảng viên. Đêm ngày 29/9/2009, anh Lê Văn Phượng dầm mình trong lũ, di dời dân và tài sản, vật lộn với dòng nước xiết. Gần sáng, sau khi cứu được nhiều người, anh chỉ kịp ăn vội chiếc bánh lương khô, uống ngụm nước rồi lại xung phong đi tiếp. Sáng ngày 30/9/2009, khi ca nô mắc kẹt dưới chân cầu Thạch Hãn, vòng xoáy dữ đã cuốn anh đi mãi, khép lại cuộc đời ở tuổi 37. Cuốn sổ đỏ vẫn còn đó, nguyên vẹn từng nét chữ, nhưng người viết đã hóa vào đất mẹ. Nó không chỉ là những trang giấy cũ, mà là biểu tượng của một đời sống trọn lý tưởng, trách nhiệm và yêu thương. Mỗi dòng chữ là một bước chân kiên định, một lời thề thầm lặng với Đảng và nhân dân. Hành trình của anh dừng lại, nhưng giá trị của cuốn sổ vẫn lan tỏa, trở thành tấm gương sáng cho đồng đội và các thế hệ mai sau. Trận chiến giữa dòng lũ Ở Quảng Trị, không khí khẩn trương bao trùm. Mọi lực lượng, từ chính quyền, quân đội đến người dân đều hiểu rõ bão số 9 không chỉ mang theo gió lớn, mưa nhiều, mà còn đe dọa trực tiếp tính mạng, tài sản của hàng ngàn hộ dân. Lúc ấy, đồng chí Lê Văn Phượng, người con xứ Nghệ đang công tác tại Ban Chỉ huy Quân sự thị xã Quảng Trị vừa xin phép về quê giúp gia đình khắc phục hậu quả lũ. Nhưng khi hay tin bão sắp ập đến, anh lập tức gác lại việc riêng, không chút do dự, anh ký giấy hoãn nghỉ phép, ở lại cùng đồng đội phòng chống bão lũ. Đúng như dự báo về cơn bão, ngày 29/9/2009 bão số 9 đổ bộ vào đất liền, trực tiếp các tỉnh miền Trung gây mưa to, gió lớn trên diễn rộng từ các tỉnh Thanh Hóa đến Quảng Ngãi và ảnh hưởng đến các tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên. Đêm ngày 29/9/2009, dưới màn mưa trắng xóa, anh cùng đồng đội lội qua những đoạn nước ngập tới thắt lưng, bế từng đứa trẻ, dìu từng cụ già, gỡ từng con trâu, con bò khỏi sợi dây buộc đang bị dòng nước cuốn giật. Đến 0 giờ 15 phút ngày 30/9/2009, sau khi hoàn thành nhiệm vụ, anh quay về đơn vị. Nước lũ dâng quá nhanh, đường ngập sâu, xe máy không thể đi, anh buộc phải gửi lại xe máy, rồi đi bộ về đơn vị để kịp nhận nhiệm vụ mới. Về tới doanh trại, bộ quân phục còn sũng nước, hơi lạnh vẫn bám trên da thịt. Anh ngồi cùng đồng đội trao đổi tình hình bão lũ, nghỉ chưa đầy nửa giờ, rồi lại tiếp tục cùng anh em chuẩn bị tàu, ca nô, kiểm tra từng sợi dây, từng chiếc áo phao đảm bảo phương tiện đi ứng cứu nhân dân trong vùng lũ. 2 giờ sáng, ngày 30/9/2009, khi nhận lệnh từ chỉ huy, đồng chí Lê Văn Phượng cùng hai đồng đội lên ca nô hướng về phường 2, thị xã Quảng Trị để cứu dân. Giữa chừng, họ nghe tiếng kêu cứu yếu ớt vọng lại từ xã Triệu Thành, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị (nay là xã Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị). Không chút do dự, anh đổi hướng, lao ca nô vào màn đêm mịt mùng, mặc cho mưa quất vào mặt, gió giật từng hồi. Dòng nước lũ cuồn cuộn, chảy xiết như muốn nuốt chửng tất cả, nhưng anh và đồng đội vẫn kiên quyết tìm đường len lỏi qua từng ngõ hẹp, soi đèn pin vào từng mái nhà, từng ô cửa. Sau hơn một giờ vật lộn, họ đưa được 7 người dân thoát khỏi vòng vây của nước dữ, trở về nơi an toàn. Khi ca nô cập bến đơn vị lúc 7 giờ sáng, ai cũng kiệt sức. Anh chỉ kịp nhai vội một mẩu lương khô, uống một ngụm nước lọc rồi lại nhận tin: ở phường 3 và xã Hải Lệ, nhiều hộ dân vẫn đang bị cô lập, nguy hiểm cận kề. Một lần nữa, anh xung phong lên đường, cùng Thiếu tá Trương Văn Nhân, Đại úy Trần Quốc Quang, Trung úy Nguyễn Ngọc Tiến và đồng chí Nguyễn Đức Phong – Phó Văn phòng UBND thị xã – lao vào vùng nước lũ. Đến phường 3, họ giải cứu được hai người dân run rẩy trên nóc nhà giữa biển nước mênh mông. Không nghỉ ngơi, ca nô tiếp tục hướng về xã Hải Lệ. Khi tới cầu Thạch Hãn, nước xoáy dữ dội quăng quật con ca nô, hất nó mắc vào chân cầu. Bất ngờ, một con sóng lớn ập đến, nhấn chìm tất cả. Trong khoảnh khắc, dòng nước hung bạo cuốn phăng đồng chí Lê Văn Phượng, đẩy anh trôi gần 4 km về hạ lưu. Đến 7 giờ 15 phút sáng 30/9/2009, giữa trận “thủy chiến” không tiếng súng, người sĩ quan trẻ đã anh dũng hy sinh. Phải đến 12 giờ 20 phút trưa, đồng đội mới tìm thấy thi thể anh lạnh lẽo nhưng vẫn như còn nguyên vẻ bình thản của một người đã trọn lời thề “vì nhân dân quên mình”. 8 giờ sáng ngày 1/10/2009, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Trị tổ chức lễ truy điệu trang trọng. Trong dòng người tiễn đưa, có đồng đội, có nhân dân và lãnh đạo địa phương tất cả đều lặng đi, đôi mắt đỏ hoe. Anh được đưa về an nghỉ tại quê nhà Nghệ An, để lại khoảng trống không gì bù đắp nổi, nhưng cũng để lại một tấm gương sáng về lòng dũng cảm và đức hy sinh của người lính Cụ Hồ giữa thời bình. Ngày 30/10/2009, Ban Chỉ huy Quân sự thị xã Quảng Trị đã trao cây bút và cuốn sổ tu dưỡng của liệt sĩ Lê Văn Phượng cho Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Với nhiều người, đó chỉ là những vật dụng đơn sơ. Nhưng với đồng đội và người dân Quảng Trị, đó là chứng tích sống động của một cuộc đời trung với Đảng, hiếu với dân, trọn vẹn nghĩa tình. Giờ đây, đứng trước hiện vật, chúng ta không chỉ nhìn thấy hiện vật mà còn thấy bóng dáng một người sĩ quan trong màu áo xanh bộ đội, giữa đêm tối và mưa gió, vẫn kiên quyết bám trụ trên mũi ca nô. Họ thấy ánh đèn pin lập lòe xuyên qua màn mưa trắng xóa, thấy tiếng máy ca nô gầm vang giữa dòng nước xiết lao về phía những tiếng kêu cứu. Câu chuyện ấy, hiện vật ấy, sẽ còn mãi nhắc nhở các thế hệ hôm nay và mai sau rằng hòa bình không có nghĩa là không có hy sinh. Và người lính dù trong chiến tranh hay thời bình vẫn luôn là lá chắn, là điểm tựa vững chắc của nhân dân./.Trần Thị Vân/ Bảo tàng LSQS Việt Nam
Sổ tu dưỡng đảng viên và bút của Trung tá Lê Văn Phượng. Cuốn sổ tu dưỡng đảng viên vốn chỉ là công cụ để mỗi người tự ghi chép, tự kiểm điểm quá trình rèn luyện. Nhưng với anh Phượng, nó là nơi để gửi gắm những trăn trở, những suy tư về công việc, về cuộc đời; là chỗ để anh đặt ra mục tiêu, tự nhắc mình sống và làm việc xứng đáng với danh hiệu người lính Cụ Hồ. Mỗi buổi sinh hoạt chi bộ, anh cẩn trọng mở cuốn sổ ấy, cầm cây bút quen thuộc viết từng dòng ngay ngắn. Nét chữ giản dị, rõ ràng, phản chiếu tính cách chủ nhân là nghiêm túc, chu toàn, không cầu kỳ nhưng đầy tâm huyết. Những năm 2008–2009, trên cương vị Trợ lý Chính trị, anh là cầu nối giữa Đảng và từng cán bộ, chiến sĩ. Anh tổ chức tuyên truyền, giáo dục chính trị, xây dựng phong trào thi đua, động viên bộ đội vượt qua khó khăn; anh lo đời sống tinh thần cho đồng đội. Và cuốn sổ cùng cây bút kia luôn đồng hành cùng anh trong phòng họp, trong ba lô công tác, hay giữa những chuyến dã ngoại huấn luyện xa. Ngày 29/9/2009, bão Ketsana ập vào miền Trung. Anh gấp cuốn sổ lại, để nguyên trong ngăn bàn làm việc. Chưa kịp viết thêm dòng nào, bởi anh đang khẩn trương cùng đồng đội chuẩn bị ứng cứu nhân dân. Hôm ấy, dù có giấy nghỉ phép để về quê lo cho gia đình đang bị lũ, anh vẫn xin ở lại đơn vị chống bão quyết định xuất phát từ sâu thẳm tinh thần “vì dân” của người đảng viên. Đêm ngày 29/9/2009, anh Lê Văn Phượng dầm mình trong lũ, di dời dân và tài sản, vật lộn với dòng nước xiết. Gần sáng, sau khi cứu được nhiều người, anh chỉ kịp ăn vội chiếc bánh lương khô, uống ngụm nước rồi lại xung phong đi tiếp. Sáng ngày 30/9/2009, khi ca nô mắc kẹt dưới chân cầu Thạch Hãn, vòng xoáy dữ đã cuốn anh đi mãi, khép lại cuộc đời ở tuổi 37. Cuốn sổ đỏ vẫn còn đó, nguyên vẹn từng nét chữ, nhưng người viết đã hóa vào đất mẹ. Nó không chỉ là những trang giấy cũ, mà là biểu tượng của một đời sống trọn lý tưởng, trách nhiệm và yêu thương. Mỗi dòng chữ là một bước chân kiên định, một lời thề thầm lặng với Đảng và nhân dân. Hành trình của anh dừng lại, nhưng giá trị của cuốn sổ vẫn lan tỏa, trở thành tấm gương sáng cho đồng đội và các thế hệ mai sau. Trận chiến giữa dòng lũ Ở Quảng Trị, không khí khẩn trương bao trùm. Mọi lực lượng, từ chính quyền, quân đội đến người dân đều hiểu rõ bão số 9 không chỉ mang theo gió lớn, mưa nhiều, mà còn đe dọa trực tiếp tính mạng, tài sản của hàng ngàn hộ dân. Lúc ấy, đồng chí Lê Văn Phượng, người con xứ Nghệ đang công tác tại Ban Chỉ huy Quân sự thị xã Quảng Trị vừa xin phép về quê giúp gia đình khắc phục hậu quả lũ. Nhưng khi hay tin bão sắp ập đến, anh lập tức gác lại việc riêng, không chút do dự, anh ký giấy hoãn nghỉ phép, ở lại cùng đồng đội phòng chống bão lũ. Đúng như dự báo về cơn bão, ngày 29/9/2009 bão số 9 đổ bộ vào đất liền, trực tiếp các tỉnh miền Trung gây mưa to, gió lớn trên diễn rộng từ các tỉnh Thanh Hóa đến Quảng Ngãi và ảnh hưởng đến các tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên. Đêm ngày 29/9/2009, dưới màn mưa trắng xóa, anh cùng đồng đội lội qua những đoạn nước ngập tới thắt lưng, bế từng đứa trẻ, dìu từng cụ già, gỡ từng con trâu, con bò khỏi sợi dây buộc đang bị dòng nước cuốn giật. Đến 0 giờ 15 phút ngày 30/9/2009, sau khi hoàn thành nhiệm vụ, anh quay về đơn vị. Nước lũ dâng quá nhanh, đường ngập sâu, xe máy không thể đi, anh buộc phải gửi lại xe máy, rồi đi bộ về đơn vị để kịp nhận nhiệm vụ mới. Về tới doanh trại, bộ quân phục còn sũng nước, hơi lạnh vẫn bám trên da thịt. Anh ngồi cùng đồng đội trao đổi tình hình bão lũ, nghỉ chưa đầy nửa giờ, rồi lại tiếp tục cùng anh em chuẩn bị tàu, ca nô, kiểm tra từng sợi dây, từng chiếc áo phao đảm bảo phương tiện đi ứng cứu nhân dân trong vùng lũ. 2 giờ sáng, ngày 30/9/2009, khi nhận lệnh từ chỉ huy, đồng chí Lê Văn Phượng cùng hai đồng đội lên ca nô hướng về phường 2, thị xã Quảng Trị để cứu dân. Giữa chừng, họ nghe tiếng kêu cứu yếu ớt vọng lại từ xã Triệu Thành, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị (nay là xã Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị). Không chút do dự, anh đổi hướng, lao ca nô vào màn đêm mịt mùng, mặc cho mưa quất vào mặt, gió giật từng hồi. Dòng nước lũ cuồn cuộn, chảy xiết như muốn nuốt chửng tất cả, nhưng anh và đồng đội vẫn kiên quyết tìm đường len lỏi qua từng ngõ hẹp, soi đèn pin vào từng mái nhà, từng ô cửa. Sau hơn một giờ vật lộn, họ đưa được 7 người dân thoát khỏi vòng vây của nước dữ, trở về nơi an toàn. Khi ca nô cập bến đơn vị lúc 7 giờ sáng, ai cũng kiệt sức. Anh chỉ kịp nhai vội một mẩu lương khô, uống một ngụm nước lọc rồi lại nhận tin: ở phường 3 và xã Hải Lệ, nhiều hộ dân vẫn đang bị cô lập, nguy hiểm cận kề. Một lần nữa, anh xung phong lên đường, cùng Thiếu tá Trương Văn Nhân, Đại úy Trần Quốc Quang, Trung úy Nguyễn Ngọc Tiến và đồng chí Nguyễn Đức Phong – Phó Văn phòng UBND thị xã – lao vào vùng nước lũ. Đến phường 3, họ giải cứu được hai người dân run rẩy trên nóc nhà giữa biển nước mênh mông. Không nghỉ ngơi, ca nô tiếp tục hướng về xã Hải Lệ. Khi tới cầu Thạch Hãn, nước xoáy dữ dội quăng quật con ca nô, hất nó mắc vào chân cầu. Bất ngờ, một con sóng lớn ập đến, nhấn chìm tất cả. Trong khoảnh khắc, dòng nước hung bạo cuốn phăng đồng chí Lê Văn Phượng, đẩy anh trôi gần 4 km về hạ lưu. Đến 7 giờ 15 phút sáng 30/9/2009, giữa trận “thủy chiến” không tiếng súng, người sĩ quan trẻ đã anh dũng hy sinh. Phải đến 12 giờ 20 phút trưa, đồng đội mới tìm thấy thi thể anh lạnh lẽo nhưng vẫn như còn nguyên vẻ bình thản của một người đã trọn lời thề “vì nhân dân quên mình”. 8 giờ sáng ngày 1/10/2009, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Trị tổ chức lễ truy điệu trang trọng. Trong dòng người tiễn đưa, có đồng đội, có nhân dân và lãnh đạo địa phương tất cả đều lặng đi, đôi mắt đỏ hoe. Anh được đưa về an nghỉ tại quê nhà Nghệ An, để lại khoảng trống không gì bù đắp nổi, nhưng cũng để lại một tấm gương sáng về lòng dũng cảm và đức hy sinh của người lính Cụ Hồ giữa thời bình. Ngày 30/10/2009, Ban Chỉ huy Quân sự thị xã Quảng Trị đã trao cây bút và cuốn sổ tu dưỡng của liệt sĩ Lê Văn Phượng cho Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Với nhiều người, đó chỉ là những vật dụng đơn sơ. Nhưng với đồng đội và người dân Quảng Trị, đó là chứng tích sống động của một cuộc đời trung với Đảng, hiếu với dân, trọn vẹn nghĩa tình. Giờ đây, đứng trước hiện vật, chúng ta không chỉ nhìn thấy hiện vật mà còn thấy bóng dáng một người sĩ quan trong màu áo xanh bộ đội, giữa đêm tối và mưa gió, vẫn kiên quyết bám trụ trên mũi ca nô. Họ thấy ánh đèn pin lập lòe xuyên qua màn mưa trắng xóa, thấy tiếng máy ca nô gầm vang giữa dòng nước xiết lao về phía những tiếng kêu cứu. Câu chuyện ấy, hiện vật ấy, sẽ còn mãi nhắc nhở các thế hệ hôm nay và mai sau rằng hòa bình không có nghĩa là không có hy sinh. Và người lính dù trong chiến tranh hay thời bình vẫn luôn là lá chắn, là điểm tựa vững chắc của nhân dân./.Trần Thị Vân/ Bảo tàng LSQS Việt Nam


