Những viên tướng ngã ngựa
Chúng ta đang hướng tới ngày kỷ niệm 60 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, 50 năm kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và 50 năm giải phóng Thủ Đô. Để các bạn có thêm chút tư liệu tìm hiểu sâu về những sự kiện lịch sử trọng đại này, tôi xin gửi tới các bạn đôi nét về những viên tướng của phía bên kia đã một thời dính líu vào cuộc chiến xâm lược nước ta với vai trò là Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh hoặc với trọng trách là Tư lệnh chiến
Thoả ước ký chưa ráo mực, chiều 22 tháng 9, quân Nhật từ Quảng Tây vượt biên giới Việt Trung đánh chiếm Lạng Sơn (22 - 25/9), đổ bộ lên Đồ Sơn, ném bom đánh chiếm Hải Phòng (26/9) và lần lượt chiếm đóng Hà Nội, Phú Thọ, Bắc Ninh.
Trước thái độ khuất phục của chính phủ Petain, Nhật lấn thêm, đòi Pháp ký hiệp ước 23/7/1941 và hiệp ước 27/9/41 chấp nhận cho Nhật đóng quân trên toàn Đông Dương với số quân không hạn định và cam kết "tương trợ" nhau trong phòng thủ Đông Dương.
Chính quyền và quân đội Pháp tuy tồn tại ở Đông Dương nhưng thực chất đã trở thành công cụ phục vụ lợi ích của Nhật. Nhân dân Đông Dương chịu hai tầng áp bức. Một tên thực dân vơ vét bóc lột nhân dân Đông Dương đã cực khổ lầm than nay lại thêm một tên phát xít đang cần mọi thứ phục vụ cho cuộc chiến tranh được mở rộng khắp Đông Nam Á và Thái Bình Dương nên càng điêu đứng kiệt quệ. Đến năm 1945 đã có hai triệu dân chết đói. Thêm vào đó hàng ngàn dân vô tội còn bị chết, bị thương do bom của Mỹ ném xuống1 (Ngày 10/12/1943 Mỹ ném bom Hà Nội, dân ta chết 128, bị thương 191. Ngày 22/12/1943 Mỹ ném bom Hà Nội, dân ta chết 373, bị thương 541. Ngày 4/8/1944 Mỹ ném bom Hà Nội, dân ta chết 65 người, bị thương 148 người).
Ngày 7/12/1941, Nhật tập kích vào căn cứ chính hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ ở Trân châu cảng thuộc quần đảo Hawai, mở đầu chiến tranh Nhật - Mỹ trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai.
Kế hoạch trận đánh do đô đốc Jamamoto hoạch định1 (Một tư lệnh lỗi lạc về chiến lược chiến thuật trên biển, nhìn xa phán đoán đúng, táo bạo linh hoạt, chết trong trận máy bay Mỹ tập kích ngày 18/4/1943 khi đi thị sát căn cứ Nhật trên đảo Salomon) và do phó đô đốc Nagumô Chuchi trực tiếp chỉ huy thực hiện.
Hải quân Mỹ đóng tại cảng có 93 hạm tàu gồm 8 thiết giáp, 8 tuần dương, 29 khu trục, 5 tàu ngầm, 9 tàu rải mìn, 10 tàu quét mìn, 394 máy bay, 42.959 quân. Cảng được bố phòng bằng các loại chướng ngại nước, có tổ chức cảnh giới chặt chẽ bằng hạm tàu ở phía Nam và có máy bay trinh sát thường xuyên trên vùng trời, vậy mà đoàn tàu sân bay của Nhật và các loại tàu chiến đi cùng, vượt chặng đường biển dài 6.300 km trong vòng 10 ngày vào đến khu chiến Mỹ vẫn không hay biết.
Sau hai đợt công kích, từ 7 giờ 35 đến 9 giờ 15 của quân đội Nhật Bản, tuy chống trả mạnh mẽ, Hải quân Mỹ đã mất toàn bộ tàu thiết giáp (4 đắm, 4 hư hỏng nặng), 6 tuần dương hạm và khu trục, 270 máy bay, 4.498 người thương vong. Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ tê liệt cả năm sau chưa phục hồi nổi.
Thắng lợi trên tạo điều kiện cho Nhật giành quyền khống chế trên biển, mở rộng bành trướng trên Thái Bình Dương và Đông Nam Á.
Liên binh đoàn thực hiện những nhiệm vụ chiến dịch chiến lược của Nhật, đương đầu với quân Anh Mỹ trên chiến trường này là đạo quân Phương Nam gồm 4 tập đoàn quân do Thống chế Bá tước Terauchi làm tổng tư lệnh.
Terauchi (A. Terauchi Count Seiki) sinh năm 1879, con Bá tước Masataki thủ tướng Nhật Bản năm 1919, tốt nghiệp trường cao đẳng quân sự của Đức năm 1897, học viện hoàng gia Nhật năm 1900. Năm 1924 được phong hàm thiếu tướng. Năm 1932 chỉ huy quân Nhật ở Mãn Châu, Đài Loan, Triều Tiên. Năm 1937 chỉ huy tập đoàn quân đánh Hoa bắc Trung Quốc. Năm 1938 là uỷ viên hội đồng chiến tranh tối cao Nhật Bản.
Tổng hành dinh của Terauchi lúc đầu đặt tại Sài Gòn. Tháng 2/1942 dời sang Singapo, tháng 5 chuyển đến Malayxia để tiện chỉ huy các chiến dịch. Tháng 4/1944 lại trở về Sài Gòn vì ở đây, từ khi chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ đã trở thành một căn cứ đường biển giữa Đông Nam Á và Nhật Bản, đồng thời còn là một cơ sở hậu cần tiếp lương thực và các nguồn lợi khác rất thuận tiện, dồi dào cho quân đội Nhật Bản đang tác chiến hoặc chiếm đóng trong khu vực.
Ngày 6/11/1941 Bộ tổng tham mưu Nhật đã thành lập tại Sài Gòn quân khu Nam do Nanpogun chỉ huy, sau đó ngày 9/2/1942 tổ chức Quân khu Đông Dương dưới quyền tướng Kazumoto Machigin với quân số một sư đoàn và một lữ đoàn vừa làm nhiệm vụ chiếm đóng vừa làm nhiệm vụ hậu cần cho đạo quân Phương Nam của Thống chế Terauehi.
Từ tháng 12/1941 sau khi chiếm Hồng Công đạo quân Phương Nam của Terauchi đã liên tiếp mở những chiến dịch lớn đánh chiếm các thuộc địa của Anh, Hà Lan, Mỹ ở Thái Bình Dương: chiến dịch Malayxia 1940-1942, chiến dịch Java 14/2-15/3/1942, chiến dịch Philippine 1941 - 1942, chiến dịch Myanma 20/1 - 10/5/1942.
Malayxia là thuộc địa của Anh. Nhật đã sử dụng tập đoàn quân 25 gồm 70.000 quân, 25 tàu chiến, 16 tàu ngầm, 600 máy bay đánh bại 14.500 Quân Đồng minh, kiểm soát được Malayxia và căn cứ Hải quân Singapo làm chủ tuyến đường biển qua eo Malacca.
Trong chiến dịch Philippin, tập đoàn quân 14 của Nhật đã tiến hành một cuộc tập kích bất ngờ vào các sân bay và căn cứ hải quân Mỹ- Philippin, đổ bộ lên các đảo Lujon Miđanao, chiếm thủ đô Manille1 (Từ 1942 - 1945 Mỹ đã phải sử dụng lực lượng tàu ngầm để tiếp tế cho lực lượng chiến đấu trên quần đảo. Trong đó chuyến đầu tiên mạo hiểm là tàu Gớt Giôn). Quân Mỹ trên đảo Lujon có đến 79.500 nhưng chống cự không nổi phải đầu hàng.
Trên đảo Java lúc này thuộc Hà Lan có đến 5 vạn quân của Mỹ, Anh, Hà Lan phòng thủ với 200 máy bay, 8 tuần dương hạm và 12 khu trục hạm. Sau khi chiếm xong Xumatra, Timor, Nhật tổ chức đổ bộ lên đảo Java bằng 2 cụm tàu ở cả phía đông và phía tây, ngày 5/3 chiếm Batavia, Giacacta. 12/3 chiếm được Java. Đến 15/3 chiếm hết các đảo thuộc Hà Lan kết thúc việt xâm chiếm toàn Đông Nam Á, củng cố thế đứng vững chắc ở Thái Bình Dương.
Myanma lúc đó là thuộc địa Anh, tập đoàn quân 15 của Nhật đã từ Thái Lan vu hồi và thọc sâu chiếm thủ đô Rangoun và tiến lên phía bắc kiểm soát toàn bộ Myanma và một phần đất đai Vân Nam, đánh tan 35.000 quân Anh và 50.000 quân Tưởng Giới Thạch, mở đường cho quân Nhật tiến vào Ấn Độ.
Thời điểm này Nhật triển khai ở Việt Nam khoảng 10 vạn quân1 (Theo Franchini trong "Những cuộc chiến tranh Đông Dương" tiếng Pháp - Nhà xuất bản Pygmalion; Paris; 1988 trang 230 thì quân số của Nhật khoảng 13 vạn. Theo Lê Kim trong Tạp chí Lịch sử quân sự số 4/2001 thì quân Nhật có 82.260 tên. - Theo Jean Maria de Baucorps trong cuốn Soldat de Jade do Kergour xuất bản thì quân đội Nhật ở Đông Dương gồm:
Sắc lính Người Nhật Người nước ngoài Tổng
Bộ binh 30.086 26.354 64.170
Thuỷ quân 3.200 1.900 5.100
Không quân 1.000 2.000 3.000
Bản xứ - - 8.000
Tổng cộng 34.286 30.254 80.270
Trong các đơn vị quân Nhật có 42% là quân tình nguyện người nước ngoài: 40% người Cao Ly, 40% người đại lục Trung Quốc, 20% người Đài Loan.). Lực lượng bảo an như binh đoàn cơ động Chí Hoà (Brigade mobile Chí hòa), binh đoàn trợ chiến Sở sen đầm Chợ Lớn (Brigade auxiliaire de la Gendarmene Chợ Lớn) ra đời khi Nhật lập ngụy quyền thân Nhật.
Nòng cốt là quân đoàn 38 do thiếu tướng kiêm toàn quyền Đông Dương Tsuchihasshi chỉ huy. Đây là lực lượng tinh nhuệ của đạo quân Phương nam với quân số khoảng 2 sư đoàn, một lữ đoàn hỗn hợp: sư đoàn 21 ở phía Bắc, lữ đoàn 34 ở miền Trung, sư đoàn 2 ở phía Nam. (quân số của quân đoàn luôn biến động. Ngày 9/3 quân đoàn có 3 sư đoàn, 2 lữ đoàn hỗn hợp, sư đoàn 55 được tăng cường từ Myanma sang nhưng sau chiến tranh mới tới Đông Dương).
Lúc đầu sở chỉ huy quân đoàn đóng tại Sài Gòn nhưng trước sự uy hiếp của Quân Đồng minh, nhằm tăng cường phòng thủ Đông Dương chống một cuộc đổ bộ của Anh-Mỹ đồng thời đề phòng quân của Tưởng Giới Thạch ở phía Bắc, sở chỉ huy quân đoàn lược chuyển ra Hà Nội.
Tháng 6/1944 nước Pháp được giải phóng, chính phủ lâm thời Cộng hoà Pháp do De Gaulle đứng đầu được thành lập vào tháng 9/1944. Chưa ổn định tình hình, Pháp đã điều hai trung đoàn sang tăng cường cho Đông Dương để giữ lấy thuộc địa. Đến lúc Nhật phải hất cẳng Pháp.
Chiến dịch Meigo được thực hiện vào ngày 9/3/1945. Có nơi Nhật tổ chức một bữa tiệc mời tất cả các quan chức quân sự, dân sự Pháp đến dự. Khi các “ông Tây", "bà Đầm" lễ phục chỉnh tề, son phấn loè loẹt tề tựu đông đủ, Nhật đứng lên tuyên bố "tất cả các ông, các bà đều đã trở thành tù binh”. Có nơi Nhật đưa xe bánh xích chạy lòng vòng quanh đồn binh của Pháp, quan lính trong đồn tưởng đại quân Nhật kéo tới vội vàng tháo chạy.
Cuộc đọ súng diễn ra ở Hà Nội, Lạng Sơn, Móng Cái. Ở Đồng Đăng cuộc chiến bắt đầu từ đêm, cho đến chiều Nhật chưa vào được đồn, bị thiệt hại nặng, khi Solie chỉ huy trưởng của đồn bị giết, Nhật mới chiếm được đồn.
Ở đạo quan binh 2, cho đến ngày 11/3 đại uý Anosse vẫn chỉ huy quân chống cự. Nhật phải tăng quân mới bắt được đồn trưởng buộc vào xe kéo lê trên đường.
Trên chín vạn quân Pháp ở Đông Dương1
(Cũng theo Jean Marie de Baucorps, quân Pháp ở Đông Dương ngày 1/3/1945 gồm:
Sắc lính Người Âu Người bản xứ Cộng
Bộ binh 12.060 48.350 60.410
Lính khố xanh 600 23.900 24.200
Thuỷ quân 160 1.900 3.500
Không quân 500 2.000 2.500
Tổng cộng 13.320 76.150 90.610
) hoàn toàn mất sức đề kháng. Ngay từ phút đầu, Decoux2 (Đô đốc, đứng đầu hải quân Pháp ở Viễn Đông. Khi Catroux bị triệu hồi về Pháp, ông ta được bổ nhiệm làm toàn quyền Đông Dương ngày 2(]/7/1 940), toàn quyền Đông Dương bị giam chặt trong dinh tại Sài Gòn. Tướng Mordant Tổng tư lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương 20 giờ ngày 9/3 thấy tiếng súng, trong bộ đồ thường phục, trèo tường chạy sang nấp ở nhà bác sĩ Botreau Roussel nhưng đã bị bắt vào chiều 10/3/1945.
Tướng Delsue, tư lệnh quân Pháp ở phía Nam và Campuchia cũng chung số phận với Mordant3 (Ngày 1/10/45 Decoux, Delsue M.De Boisannger và chánh mật thám M.Armoux được rời Lộc Ninh về nước).
Alessandri tư lệnh bắc Đông Dương chỉ kịp tập hợp quân ở Tông, chạy ngược sông Hồng lên sông Đà qua Sơn La lên Điện Biên vào ngày 24/3/1945 và đến Phong Xa Lỳ ngày 31/3.
Tướng Sabachier, Tư lệnh Bắc Kỳ thu được một số đơn vị về Phủ Đoan, theo đường Yên Bái vào Nghĩa Lộ, Tú Lệ đến được Lai châu ngày 23/3/1945.
Lực lượng hai cánh tàn quân khoảng trên 5.000, nhờ sự can thiệp của Paris, tháng 5 họ được vào đất Trung Quốc và khoảng tháng 7 thì được đồn trú nhờ ở Mông Tự (Vân Nam) và các thị trấn dọc đường sắt Côn Minh - Lào Cai. Ngoài ra có một tiểu đoàn chạy thoát từ Móng Cái sang Thập vạn đại sơn của Tàu.
Lực lượng hải quân khoảng 6 đại đội, 920 binh sĩ do Commentry chỉ huy từ Hạ Long chạy trốn sang Calcuta. Lực lượng này sau do Lieutenant de Vaisseau Flichy và tiểu đoàn trưởng Carbonel cầm đầu trở về đổ bộ lên hải đảo Đông Bắc trước ngày có hiệp định sơ bộ 6/3/1946.
| Lúc đầu Nhật có ý định duy trì bộ máy thống trị Pháp, biến nó thành tay sai thuần tuý song cũng có người Pháp không chịu, vả lại làm như vậy thì thuyết "Đại Đông Á" sẽ thành mớ rẻ rách trước nhân dân Đông Dương. Nhật phải dùng đến bọn tay sai người Việt, dựng lên chính phủ Trần Trọng Kim vào ngày 11/3/1945. Ngày 11/6/1945, Toàn quyền Nhật tuyên bố với Bảo Đại: "Nhật không có tham vọng đất đai Việt Nam, sẽ trao trả Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và Nam Bộ". Bộ máy tuyên truyền của Nhật không ngớt hô hào "cùng máu dỏ, da vàng", bọn Trần Trọng Kim thì ra rả "phải biết ơn người Nhật đã giải phóng cho dân tộc Việt Nam" nhưng dưới cái ách của phát xít, với những vụ khủng bố điển hình, chém xả đôi người giữa chợ, và những cuộc vây ráp bắt bớ của bọn hiến binh (Kempei) dân ta càng ngột ngạt. Phong trào cách mạng của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương bột phát như sóng triều, chờ thời cơ bùng nổ. Các chiến khu Cao Bắc Lạng, Hà Tuyên Thái, Ngọc Trạo, Hà Ninh Thanh hình thành với những đội du kích chống Nhật được tổ chức, tạo chỗ đứng cho phong trào cách mạng. Từ giữa năm 1944, ở Thái Bình Dương, Anh-Mỹ đã bắt đầu phản công chiến lược, giải phóng dần các đảo từ phía đông, đến hết 1944 giải phóng Nouvelle Guineé và các đảo của Phihppin, sau đó lần lượt giải phóng Myanma, Philippin (1945)1 (Cụm các tập đoàn quân 14 của Nhật phòng thủ vùng này có 45 vạn quân, 980 máy bay, 86 tàu chiến các loại. Mỹ sử dụng tập đoàn quân 6 (24 vạn quân) và 2 hạm đội 3 + 7 với 245 tàu chiến các loại trong đó có 35 tàu sân bay + 29 tàu ngầm, khoảng 2500 máy bay của lực lượng không quân Viễn đông, mở chiến dịch tiến công Nhật từ 20/11/1944 nhưng đến ngoại vi Manilla thì bị chặn lại. Các hoạt động chiến đấu ở Philippin về cơ bản chấm dứt vào tháng 7/1945) chiếm đảo Josima (3/1945) và Okinaoa (6/1945) của Nhật. Theo hiệp định Crưm 4-11/2/194, ngày 8/8 Liên Xô tuyên chiến với Nhật. Có sự phối hợp của quân đội Mông Cổ, quân đội cách mạng Triều Tiên và Trung Quốc, Liên Xô đã mở 3 chiến dịch lớn: Chiến dịch Mãn Châu 9/8 đến 2/9/1945 nhằm giải phóng Đông Bắc Trung Quốc và Triều Tiên, chiến dịch Nam Xakhalin giải phóng vùng Nhật chiếm đóng của Nga từ 1905, chiến dịch Crưm từ 18/8 đến 1/9/1945. Chiếm đóng Mãn Châu là đạo quân Quan Đông- liên binh đoàn chiến lược tinh nhuệ và thiện chiến nhất của Nhật (được thành lập từ năm 1919 ở Liêu Đông) gồm 3 phương diện quân 1 + 3 + 17, một tập đoàn quân độc lập, hai tập đoàn quân không quân 2 và 5, quân số trên 1 triệu cùng 1.000 xe tăng, 5000 pháo và 1800 máy bay do đại tướng Otodo Jamada chỉ huy. Đập tan đạo quân Quan Đông sẽ có ý nghĩa quyết định đối với sự tiêu vong của chủ nghĩa phát xít Nhật Bản. Liên xô đã tập trung 1 triệu 50 vạn quân của 3 phương diện quân: Viễn Đông 1 + Viễn Đông 2 + Dabaican, hạm đội Thái Bình Dương, giang đội Amour cùng quân Mông Cổ với 2.600 pháo, 5.300 xe tăng và pháo tự hành, 5000 máy bay và 93 tàu chiến đặt dưới quyền nguyên soái Vaxilepki, mở cuộc tiến công trong 3 tuần tiêu diệt 100.000 quân Nhật, bắt sống 600.000 trong đó có 148 viên tướng khiến ý chí xâm lược của những tên trùm phát xít suy sụp. |



