Niềm hy vọng cuối đời của Phan Châu Trinh
Phan Châu Trinh là nhà yêu nước lớn của Việt Nam đầu thế kỷ XX. Về tuổi tác, Phan Châu Trinh là bậc cha chú của Nguyễn Ái Quốc. Mặc dù giữa hai người có sự khác nhau về phương pháp cứu nước, nhưng đối với Phan Châu Trinh, Nguyễn Ái Quốc luôn một lòng tôn kính. Trong thời gian cả hai người cùng sống ở châu Âu, nhưng có lúc không gần nhau: Nguyễn Ái Quốc ở Anh, Phan Châu Trinh ở Pháp; Nguyễn Ái Quốc đã có một số lần viết thư gửi cụ Phan trong thời gian xảy ra Chiến tranh thế giới thứ nhất. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Nguyễn Ái Quốc về hoạt động ở Pari và đƣợc cụ Phan Châu Trinh giúp đỡ rất nhiều. Ở Pari lúc đó còn có luật sƣ Phan Văn Trƣờng. Vào tháng 11-1919, mật thám Pháp có nhận xét về ba ngƣời nhƣ sau: “Đa số những ngƣời thông ngôn đã nhận xét về Phan Châu Trinh là một nhà cách mạng khôn khéo, Phan Văn Trƣờng là ngƣời đã dịch tƣ tƣởng của ông, còn Quốc là một nhà Nho cộng sự của hai ngƣời trên, ít ai biết”. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đời sống ở Pháp rất khó khăn, vất vả. Phan Châu Trinh lúc ấy đã thành thạo nghề thợ chữa ảnh. Mỗi tháng cụ kiếm đƣợc độ l.000 quan, nên đã giúp đỡ Nguyễn Ái Quốc. Nguyễn Ái Quốc đƣợc Khánh Ký và cụ Phan Châu Trinh trợ giúp để sinh sống. Nhiều mật báo đã gửi về cho Bộ Thuộc địa Pháp cho biết: “Quốc ở nhờ nhà của Phan Văn Trƣờng. Sinh sống thì do Khánh Ký và Phan Châu Trinh cấp dƣỡng, mỗi tháng không quá 500 Francs''. Ở Pari, Nguyễn Ái Quốc có tham gia vào việc chuyên chữa ảnh tại xƣởng chữa ảnh của Phan Châu Trinh để có thêm tiền tiêu dùng. Ngoài việc giúp đỡ nói trên, trong thời gian đầu, cụ Phan Châu Trinh còn giúp đỡ Nguyễn Ái Quốc làm quen với những ngƣời bạn Pháp. Tài liệu thƣ khố cho biết, những ngƣời bạn Pháp có cảm tình với Phan Châu Trinh thì cũng trở thành bạn của Nguyễn Ái Quốc. Cụ Phan Châu Trinh đã giới thiệu những ngƣời Pháp mà cụ biết chắc chắn có cảm tình với Việt Nam để những ngƣời này có thể giúp đỡ Nguyễn Ái Quốc nhƣ Giulét Ru, Marin Matel, nhà báo Bácbuýt. Bácbuýt là ngƣời đã vận động với Hội Nhân quyền để cứu Phan Châu Trinh thoát án tử hình sau vụ chống thuế 1908. Ru là nhà Việt Nam học, vào năm 1914, khi cụ Phan Châu Trinh bị bắt, đã vận động ráo riết, tìm cách chứng minh cụ Phan Châu Trinh vô tội. Matel từng chống đối chính sách hà lạm, độc ác của thực dân Pháp ở Đông Dƣơng. Nhờ cụ Phan Châu Trinh giới thiệu, Nguyễn Ái Quốc đã trở thành bạn của những ngƣời nói trên. Cùng có nhiệt tình yêu nƣớc, cùng có trách nhiệm đối với nhân dân, nhƣng phƣơng pháp cách mạng của Nguyễn Ái Quốc và cụ Phan Châu Trinh lúc đầu không hoàn toàn giống nhau. Cụ Phan Châu Trinh muốn giữ cƣơng vị của mình là một nhà chí sĩ yêu nƣớc không đảng phái còn Nguyễn Ái Quốc thì đến với học thuyết Mác - Lê nin. Và sau nhiều thất bại, khi đã cảm thấy mình bất cập với thời thế, trong một bức thƣ đề ngày 18-2-1922 gửi từ Mácxây cho Nguyễn Ái Quốc ở Pari, cụ Phan Châu Trinh đã chân thành bộc bạch: Tôi tự ví thân tôi nhƣ con ngựa già hết nƣớc kiệu, phi nƣớc tế. Thân tôi tựa nhƣ chim lồng, cá chậu. Vả lại cây già thì gió dễ lay, ngƣời già thì trí dễ lẫn. Cảnh tôi nhƣ hoa sắp tàn, hiềm vì quốc phá gia vong, mà hơi tàn cũng phải gào cho hả, may ra có tỉnh giấc hồn mê... Và ở cuối thƣ, cụ Phan Châu Trinh vui mừng viết rằng Nguyễn Ái Quốc “nhƣ cây dƣơng lộc, nghị lực có thừa, dày công học hành, lý thuyết tinh thông''. Cụ Phan Châu Trinh tin rằng không bao lâu nữa cái chủ nghĩa anh tôn thờ (ý chỉ chủ nghĩa Mác - Lênin) sẽ thâm căn cố đế (sâu rễ bền gốc) trong đám dân tình chí sĩ nƣớc ta''. Năm 1925, cụ Phan Châu Trinh về nƣớc và sớm qua đời vào năm 1926. Trong thời gian đó, những đánh giá và niềm tin đối với Nguyễn Ái Quốc của Phan Châu Trinh vẫn nguyên vẹn. Cụ Phan thổ lộ với các đồng chí của mình nhƣ Lê Văn Huân, Huỳnh Thúc Kháng, trƣớc khi cụ qua đời rằng ''Sự nghiệp độc lập nƣớc nhà trông cậy vào Nguyễn Ái Quốc''. Câu nói ấy cũng đƣợc nhắc lại với lớp ngƣời cách mạng trẻ nhƣ Trần Huy Liệu, Tôn Quang Phiệt… khi tìm đến hỏi cụ về vận mệnh của đất nƣớc. Trong mọi trƣờng hợp, thái độ tôn kính của Nguyễn Ái Quốc đối với cụ Phan Châu Trinh là điều dễ hiểu. Trong tác phẩm Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Trần Dân Tiên cho biết tình cảm của Nguyễn Tất Thành đối với cụ Phan Châu Trinh, khi anh vui mừng viết thƣ cho bạn bè: “Tôi đã gặp nhà ái quốc Phan Châu Trinh”. Sau này, khi đã trở thành Chủ tịch nƣớc, nhớ lại cụ Phan, Chủ tịch Hồ Chí Minh, viết: Cụ Phan Châu Trinh mở trƣờng học bí mật truyền bá chủ nghĩa yêu nƣớc và công kích bọn cầm quyền Pháp. Vì vậy, Cụ bị kết án tử hình nhƣng đƣợc Hội Nhân quyền Pari cứu. Tình cảm của Nguyễn Ái Quốc đối với cụ Phan Châu Trinh rất sâu sắc khi cụ qua đời (năm 1926). Nguyễn Ái Quốc trân trọng đúng mức tinh thần yêu nƣớc của cụ Phan Châu Trinh, đánh giá cao ảnh hƣởng của cụ đối với phong trào cách mạng của đất nƣớc. Nguyễn Ái Quốc viết: “Nhà chí sĩ Phan Châu Trinh, một ngƣời thuộc phái quốc gia khác, vừa qua đời. 30.000 ngƣời An Nam ở khắp xứ Nam Kỳ đã làm lễ an táng theo quốc lễ và khắp nƣớc đã tổ chức lễ truy điệu nhà chí sĩ. Chỉ trong vòng vài ba ngày, một cuộc lạc quyên đã thu đƣợc 100.000 đồng. Tất cả học sinh, sinh viên đều để tang cụ. Trƣớc phong trào yêu nƣớc của toàn dân, bọn thực dân Pháp sợ hãi, bắt đầu phản công lại. Chúng cấm học sinh để tang và tổ chức lạc quyên. Chúng cấm tổ chức các lễ truy điệu, v v. để phản đối lại, học sinh đã bãi khoá ''. Trong tác phẩm Báo cáo gửi quốc tế Cộng sản về phong trào cách mạng ở An Nam, Nguyễn Ái Quốc nhắc lại phong trào cả nƣớc để tang cụ Phan Châu Trinh. “Năm 1926, có một sự thức tỉnh trong toàn quốc tiếp theo sau cái chết của một nhà quốc gia chủ nghĩa là Phan Châu Trinh. Khắp trong nƣớc đều tổ chức lễ truy điệu. Chữ “chủ nghĩa quốc gia” từ đó đƣợc nói và viết một cách công khai. Những giáo viên Pháp tìm cách ngăn cấm học sinh tham gia các cuộc mít tinh đó. Nam nữ học sinh ở nhiều trƣờng, đặc biệt là ở Sài Gòn là nơi tổ chức đám tang, đã tuyên bố bãi khóa. 20.000 ngƣời đi theo linh cữu, mang biểu ngữ viết những khẩu hiệu có tính chất quốc gia chủ nghĩa. Ngƣời An Nam chƣa hề đƣợc chứng kiến một việc to lớn nhƣ vậy bao giờ trong lịch sử”.



