Niềm tự hào chiến sỹ cách mạng - người con mảnh đất Ninh Bình
1.Liệt sĩ Trần Hữu Thủy.
-Quê quán: Thị trấn Quất Lâm, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Năm sinh khoảng 1944. Đơn vị Trinh sát An ninh (Công an nhân dân). Nhập ngũ năm 1964 (khi ông vừa bước sang tuổi 20). Ông lên đường theo tiếng gọi của thanh niên thời đại "Ba sẵn sàng", cùng với nhiều anh em thanh niên địa phương hăng hái gia nhập các lực lượng vũ trang để bảo vệ quê hương ven biển. Tháng 8/1964, ông nhận nhiệm vụ đầu tiên là tiêu diệt những tên ác ôn địa phương có nợ máu với nhân dân (tiêu biểu là tên Lê Viết Trị). Đây là giai đoạn chiến tranh gián điệp và biệt kích diễn ra ác liệt tại vùng biển Nam Định. Ông đã cùng đồng đội bám trụ địa bàn, theo dõi di biến động của kẻ thù để bảo vệ cơ sở cách mạng và giữ gìn an ninh trật tự cho vùng quê Quất Lâm trong những năm tháng bị không quân Mỹ đánh phá ác liệt.
2.Liệt sĩ Nguyễn Văn Đạt.
- Quê quán: Thị trấn Quất Lâm, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Năm sinh 1951. Thuộc Trung đoàn bộ binh (Sư đoàn 324 - Đoàn Ngự Bình). Nhập ngũ vào tháng 2 năm 1968. Ông nhập ngũ cùng đợt với rất nhiều thanh niên Giao Thủy trong phong trào "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước". Đây là giai đoạn cao điểm sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Sau khi huấn luyện, ông hành quân vào chiến trường Trị Thiên - Huế (một trong những chiến trường ác liệt nhất lúc bấy giờ).Ông đã tham gia nhiều trận đánh chặn chi viện của địch tại vùng giáp ranh Quảng Trị. Trong một trận đánh ác liệt vào tháng 5/1972 (thời điểm diễn ra chiến dịch giải phóng Quảng Trị), ông đã anh dũng hy sinh khi đang giữ vị trí chốt chặn để đơn vị thực hiện mũi tấn công quan trọng. Sự hy sinh của ông tại vùng đất lửa Quảng Trị là minh chứng cho tinh thần "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh" của người dân Quất Lâm.
3.Nghệ sĩ Nhiếp ảnh - Chiến sĩ: Đoàn Công Tính. Họ và tên: Đoàn Công Tính. Năm sinh: 1943 (Hiện nay ông vẫn đang sống và hoạt động nghệ thuật tại TP. Hồ Chí Minh). Quê quán: Xã Xuân Hòa , huyện Xuân Trường , tỉnh Nam Định. Phóng viên chiến trường của Báo Quân đội Nhân dân. Ông nhập ngũ năm 1962 , vào học trường Sĩ quan Pháo binh và sau đó trở thành thành viên viên chuyên nghiệp tại các mặt trận ác liệt nhất. Ông được mệnh danh là một trong những phóng viên chiến trường dũng cảm nhất của quân đội ta. Những bức ảnh của ông không chỉ là tác phẩm nghệ thuật mà còn là bằng chứng lịch sử vô giá về sự gay gắt và anh hùng của quân dân Việt Nam. Mùa hè đỏ lửa năm 1972, khi bom đạn Mỹ dội xuống Thành cổ Quảng Trị với sức mạnh phá tương đương 7 quả bom nguyên tử. Ông không ngồi ở hậu phương mà trực tiếp vượt sông Thạch Hãn dưới làn sóng mưa bom để vào trong thành. Tại đây, anh cùng các bạn chiến đấu giữ những buổi hào hùng, công sự. Khi quân phản công phản đòn bằng xe tăng và bộ binh áp sát, ông đã chụp bức ảnh "Nụ cười chiến thắng bên thành cổ" . Lúc đó, các chiến binh vừa chiến đấu bước vào tấn công của quân vương, bùn đất bám đầy mặt nhưng nụ cười vẫn rạng rỡ. Ông chia sẻ rằng lúc đó "ranh giới giữa cái chết và sự sống mong manh đến mức người ta không còn sợ chết, chỉ còn tinh thần quyết tử". Bức ảnh đó chính là vũ khí sắc nét nhất của ông trong trận đánh này. Ông có mặt tại "chảo lửa" Quảng Trị năm 1972 . Ông là người đã chụp bức ảnh Huyền thoại "Nụ cười chiến thắng bên thành cổ Quảng Trị" – biểu tượng cho tinh thần lạc quan của người lính giữa mưa bom đạn. Chiến công: Ông từng trực tiếp cầm súng chiến đấu như một người lính thực thụ khi đơn vị bị bao vây, đồng thời ghi lại những khoảnh khắc lịch sử tại Đường 9 - Nam Lào, Thành cổ Quảng Trị. Ông được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học - Nghệ thuật năm 2007 cho những cống hiến hình ảnh trong chiến tranh
4.Cựu chiến binh: Trần Xuân Đang Họ và tên: Trần Xuân Đang. Quê quán: Xã Xuân Hòa, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Năm nhập ngũ: 1972 (Giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ). Ông từng tham gia chiến đấu tại Mặt trận phía Nam, thuộc đơn vị thông tin liên lạc – một vị trí cực kỳ nguy hiểm vì thường xuyên phải băng qua làn đạn để giữ vững mạch máu thông tin.
Vào năm 1972, khi ông Nhập ngũ và hành quân vào miền Nam, các tuyến đường dây thông tin hữu tuyến (dây cáp) là mục tiêu đánh số 1 của máy bay Mỹ. Địa điểm là các vùng chuyển quân giáp ranh giới giữa miền Đông Nam Bộ. Địch sử dụng máy bay soi đêm và bắn tốc độ liên tục vào đường trục giao tiếp để cắt sự huy động từ Bộ Tư lệnh xuống các sư đoàn đang hoạt động chiến đấu. Trong một chiến dịch phối hợp Hiệp đồng quân binh (pháo binh và bộ binh) tại mặt trận phía Nam, đơn vị của ông Đang có nhiệm vụ giữ đường dây từ Sở chỉ huy tiền phương đến các trận địa pháo. Giữa lúc pháo nổ ta đang lao vào căn cứ chiến đấu, máy bay phản lực và pháo đài của ngựa phản công dữ dội. Một kết quả bom nổ gần làm giảm đoạn dây cáp quan trọng. Toàn bộ hệ thống liên lạc bị tê liệt, pháo binh ta mất "mắt", không biết bắn vào đâu để hỗ trợ bộ binh đang xung phong. Ông cùng là một đồng đội nhận lệnh bên trái, mang theo cuộn dây và máy điện thoại chạy dọc tuyến đường dây để tìm chỗ trống. Vượt qua cái chết: * Ông phải bò qua vũng bom còn độc mùi thuốc súng. Khi tìm thấy điểm tích lũy, dây bị cháy sém và thiếu một đoạn ngắn sức nổ. Trong tình thế cấp bách không có dây dự phòng đủ dài, ông đã quyết định Dũng cảm: Sử dụng thân mình hoặc các vật liệu điện thô sơ để kết nối tạm thời, hoặc dùng khít chặt đầu dây để giữ điểm (một kỹ thuật cực kỳ nguy hiểm của chiến binh thông tin thời đó) tranh thông mạch điện chỉ trong vài phút quý giá. Tín hiệu "Alô! Alô! Nghe rõ trả lời" vang lên. Lệnh bắn được truyền đi chính xác, giúp bộ binh ta tiêu diệt mục tiêu. Ngoài bom chiến, trận đánh của ông Đang còn là cuộc chiến thiên nhiên khắc nghiệt. Xã Xuân Hòa quê ông vốn là vùng đồng bằng, nhưng khi vào chiến trường, ông phải tác chiến trong những vùng rừng bị rải chất độc da cam trụi lá. Địch rải quân dọc dây tuyến. Ông Đang và đồng đội phải vừa đi vừa line, vừa phải ngụy trang kỹ thuật lưỡng để tránh bị máy bay thăng phát hiện. Có những lúc bác phải ngâm mình dưới bùn đỏ hàng giờ đồng hồ để chờ cuộc rút lui qua mới câu lên nối lại đường dây. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ với Tổ quốc, ông Đang trở về quê hương Xuân Hòa với tư cách là một thương binh. Thay vì nghỉ ngơi, ông tiếp tục cống hiến cho xã nhà. Ông từng giữ chức vụ Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã Xuân Hòa. Trong thời gian tại vị, ông đã giúp đỡ rất nhiều đồng đội cũ tìm kiếm chế độ chính sách và xây dựng phong trào cựu chiến binh gương mẫu tại xã. Hiện nay, ông vẫn đang sinh sống tại xã Xuân Hòa, là một "phở sử sống" thường xuyên kể chuyện truyền thống cách mạng cho các thế hệ trẻ tại các trường học trên địa bàn huyện Xuân Trường.
5.Anh hùng lực lượng Vũ trang Nhân dân: Đặng Phi Thưởng(1947 – 1970).Quê quán Xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, Tỉnh Nam Định. Đơn vị chiến đấu: Đại đội 1, Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 64, Sư đoàn 320 (Sư đoàn Đồng Bằng).Nhập ngũ năm 1967. Trong cuộc chiến kháng chiến chống Mỹ, đồng chí Đặng Phi Thưởng nổi tiếng với tinh thần Du kích cảm "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh".Trận tiêu biểu: Trận chiến tại cao điểm 400 (Quảng Trị) năm 1970. Dù ông đã hy sinh (không còn tồn tại bằng chứng trên), nhưng chi tiết trận đánh của ông là một "huyền thoại" được lưu danh sách trong sử sách quân đội. Chi tiết trận đánh: Cao điểm 400 (Động Tri) - Quảng Trị. Thời gian: Tháng 7 năm 1970. Bối cảnh cao điểm 400 là một vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng ở vùng phía tây Tây Quảng Trị. Quân Mỹ và quân đội Sài Gòn đóng giữ tại đây để chế độ đường hành quân của bộ đội ta. Trong trận chiến sử dụng cao điểm, đơn vị của Đặng Phi Thưởng (Đại đội 1, Tiểu đoàn 7) vấp phải khả năng dữ dội từ các lô nguyên tố và hỏa lực đại liên vương quốc. Với cương vị là Tiểu đội trưởng, ông đã dẫn đầu tiểu đội xông lên, trực tiếp dùng bom phá tiêu diệt 2 lô lô đầu cầu, mở đường cho đơn vị tiến vào trung tâm căn cứ. Sau khi được sử dụng một phần địa chỉ, chiến đấu điên cuồng bằng pháo binh và máy bay ném bom tốc độ để lấy lại điểm cao. Một mảnh pháo vào đùi và một mảnh khác vào cánh tay trái của ông. Đồng đội muốn đưa ông về tuyến sau nhưng Đặng Phi Thưởng từ chối. Ông nói: "Tôi còn tay phải, còn mắt, còn súng, tôi còn chiến đấu được!" Ông dùng một tay còn lại để nạp đạn và bắn trả. Khi cánh tay quá đau, ông đã tự động sử dụng băng cá nhân buộc chặt tay vào người để không bị đánh đập khi bò trên công sự. Trận chiến kéo dài suốt nhiều giờ đồng hồ, bể dược phẩm cạn kiệt, tiểu đội chỉ còn lại một số người. Khi một quân đội thượng đẳng tấn công vào hầm chỉ huy, Đặng Phi Thưởng đã chờ chúng đến thật gần rồi dùng tay phải rút chốt cầm tay súng cuối cùng, lao thẳng vào đám đông quân đội. Tiếng nổ vang lên, ông hy sinh anh dũng ở tuổi 23, nhưng đã bảo vệ vững chắc trận địa và tạo điều kiện cho đại quân tiêu diệt toàn quân trên cao điểm 400. Với những cống cống đặc sản xuất sắc, ông đã được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang Nhân dân
6.Cựu chiến binh - Thương binh: Nguyễn Văn Vy. Họ và tên: Nguyễn Văn Vy. Quê quán: Xã Bạch Long , huyện Giao Thủy , tỉnh Nam Định. Ông nhập ngũ năm 1972 , thuộc đơn vị Thông tin , tham gia chiến đấu tại các chiến trường miền Nam nghiêm ngặt. Nhập ngũ năm 1972, ông Vy ngay lập tức được đưa vào vùng đất cháy Quảng Trị. Trong một trận chiến ác liệt tại vùng ven Quảng Trị, đơn vị của quân đội bao vây và sử dụng hỏa lực mạnh mẽ. Với vai trò chiến đấu thông tin, ông vừa phải giữ liên lạc, vừa phải cầm súng chiến đấu như một bộ binh thực thụ để bảo vệ hậu địa. Giữa lúc đạn lạc, một mảnh pháo đã găm vào người bác hậu bị thương nặng. Dù nhiều máu, ông vẫn hiển thị không có vị trí cho đến khi đơn vị giải nén tiếp theo. Vết thương này sau đó khiến ông trở thành thương binh hạng 2/4, nhưng tinh thần hiển cường của người lính biển Giao Thủy đã giúp ông vượt qua cái chết trong gang tấc. Hiện tại, Ông đang sinh sống tại xã Bạch Long. Sau khi xuất ngũ, ông trở về quê hương và trở thành thành "triệu phú vùng chân sóng" nhờ tinh thần sáng tạo trong nuôi trồng thủy hải sản (đặc biệt là nuôi tôm). Ông thường xuyên giúp đỡ các đồng đội cũ và dân dân trong xã hội về kỹ thuật kinh tế.
7.Cựu chiến binh - Đại tá: Đinh Xuân Hướng
Họ và tên: Đinh Xuân Hướng.
Quê quán: Xã Bạch Long , huyện Giao Thủy , tỉnh Nam Định. Nhập ngũ trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (khoảng cuối thập niên 60, đầu 70). Ông có thời gian dài phục vụ trong quân đội, từng giữ các chức vụ chỉ huy và công tác tại Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Nam Định . Khác với chiến sĩ trực tiếp, trận đánh của một người như ông Hướng mang tính chất chỉ huy và chiến thuật lâu dài. Tham gia từ những năm kháng chiến chống Mỹ. Trận đánh của ông là những chuỗi ngày hành quân thần tốc, vượt qua các điểm chiến đấu quan trọng của quân đội Mỹ để tiến về giải phóng miền Nam. Ông tham gia vào công việc của tổ chức năng lượng, đảm bảo hậu cần và chiến thuật cho các đơn vị địa phương phối hợp với quân chủ. Hiện tại, sau khi về hưu với quân hàm Đại tá , ông trở về sống tại quê nhà Bạch Long. Ông từng giữ chức vụ Chủ tịch Hội Cựu chiến binh huyện Giao Thủy. Ông là người có công lớn trong việc tập hợp các cựu chiến binh tại xã Bạch Long và huyện Giao Thủy để thực hiện các phong trào "Xây dựng nông thôn mới" và giáo dục truyền thống yêu nước cho thanh niên vùng biển.
8. Ông nhập ngũ từ năm 1975. Sau khi nhập ngũ, ông được điều động tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, bắt đầu từ mặt trận Khe Sanh.
Tiếp đó, ông tham gia vào các đợt tiến công của quân ta từ mọi hướng để giải phóng các tỉnh miền Nam:
Đồng Xoài: Ông trực tiếp chiến đấu tại đây.
Sân bay Biên Hòa: Sau khi rời Đồng Xoài, đơn vị ông tiến về Sân bay Biên Hòa.
Dinh Độc Lập: Ông có mặt trong đoàn quân tiến thẳng vào Dinh Độc Lập trong ngày giải phóng.
Giai đoạn sau Giải phóng (1976–1978)
Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, hành trình của ông tiếp tục qua nhiều địa danh khác nhau:
Bình Dương: Ông nghỉ quân tại đây một thời gian ngắn. Ông được điều động ra để hỗ trợ xây dựng Cảng Cam Ranh. Tổng kho Long Bình: Sau đó, ông về đóng chốt tại Lào (1976): Ông sang Lào để thực hiện nhiệm vụ quy tập hài cốt các liệt sĩ về Việt Nam. Chiến dịch Campuchia (1979) Đến giai đoạn năm 1978 - 1979, ông tham gia chiến dịch Campuchia cùng Sư đoàn 304: Chỉ huy: Dưới sự lãnh đạo của Trung tướng Hoàng Kim Tuấn (Chỉ huy trưởng mặt trận Campuchia). Nhiệm vụ: Ông là người lái xe đi đầu đoàn, hỗ trợ đưa Sư đoàn 304 bộ binh tiến vào giải phóng các vùng đất. Ông trực tiếp lái xe con, trang bị máy 12 ly 7 để dẫn đường và liên lạc cho toàn quân.
Trận đánh tại Phnôm Pênh: Ông kể lại những trận phục kích ác liệt của địch (theo nhóm nhỏ 3 người hoặc cấp tiểu đội). Quân ta đã phải thực hiện chiến dịch truy quét sạch bóng quân địch cho đến tận biên giới Thái Lan. Sân bay Battambang: Sau khi giải phóng, ông đóng quân tại đây để hỗ trợ xây dựng và sửa chữa lại sân bay. Tháng 8/1979: Ông từ Campuchia rút quân về tham gia chiến dịch miền Bắc.Ngày 30/12/1980: Ông chính thức phục viên và trở về địa phương.Hiện tại: Ông tham gia Hội Cựu chiến binh tại địa phương.
9. Tháng 8/1974: Ông vào miền Nam, tham gia chiến đấu tại Chiến trường Quân khu 5, mặt trận Khe Sanh.
Sau đó: Ông hành quân vào Chu Lai, tham gia giải phóng và đóng chốt tại Cảng Chu Lai.
Làm kinh tế: Ông thuộc Đoàn 332, thực hiện nhiệm vụ tại Pleiku (Gia Lai).
Tháng 8/1978: Ông sang Ngã ba Đông Dương, trực tiếp tham gia chiến đấu chống quân Pol Pot (Campuchia).
Năm 1979: Sau khi giải phóng Campuchia, ông chuyển vào Quân khu 7, đóng quân tại Phnôm Pênh và sau đó là Battambang.
Tháng 10/1981: Ông chính thức ra quân và trở về địa phương làm phục viên.
Đơn vị: Ông thuộc lực lượng Pháo binh.
Vị trí chiến đấu: Do đặc thù là pháo binh (pháo 105 và pháo 130), đơn vị của ông thường cách xa tiền tuyến khoảng mười mấy cây số, không giáp mặt trực tiếp với địch như bộ binh.
Trận đánh ác liệt nhất: Ông nhấn mạnh về sự khốc liệt tại đường xe núp (khu vực từ Ngã ba Đông Dương về đến Gia Lai, Kon Tum, Buôn Ma Thuột) vào cuối năm 1978, đầu năm 1979. Đây là nơi diễn ra các trận phục kích mạnh nhất, khiến nhiều đồng đội hy sinh.
Cuộc sống sau chiến tranh
Ông có hơn 7 năm trong quân ngũ, trong đó có hơn 3 năm trực tiếp chiến đấu tại chiến trường Campuchia.
Khi trở về, ông chia sẻ rằng bản thân không nhận được chế độ chính sách gì đặc biệt, "cùng lính hào hùng nhưng không có đồng nào".
Tại địa phương, trong số những người cùng đi chiến dịch đó, ông là người trở về muộn nhất.


