Niềm tự hào về người ông anh dũng của tôi
Niềm tự hào về người ông anh dũng của tôi
Tôi sinh ra và lớn lên trong hòa bình, nhưng ký ức về chiến tranh luôn hiện hữu trong gia đình tôi qua những câu chuyện giản dị mà xúc động của ông nội – ông Vũ Đình Điện. Với tôi, ông không chỉ là người ông kính yêu, mà còn là một người lính kiên trung, một tấm gương sáng về lòng yêu nước, sự hy sinh và tinh thần cống hiến trọn đời cho Tổ quốc.
Ông nội tôi sinh năm 1938 tại xã Quỳnh Bảo, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình (nay là xã Quỳnh An, tỉnh Hưng Yên). Trong những năm tháng đất nước còn chìm trong khói lửa chiến tranh, ông sớm nuôi dưỡng lý tưởng cách mạng. Ngày 12/4/1962, ông tình nguyện nhập ngũ và được biên chế vào Trung đoàn 48, Sư đoàn 320, Đại đội 12 ly 7, làm nhiệm vụ bảo vệ chỉ huy sở trung đoàn. Đó là công việc thầm lặng nhưng vô cùng quan trọng, đòi hỏi người lính phải có bản lĩnh vững vàng, tinh thần cảnh giác cao và lòng trung thành tuyệt đối.
Ngày 8/3/1965, ông được cử đi B, trực tiếp tham gia chiến đấu tại chiến trường miền Nam - nơi ác liệt và gian khổ bậc nhất. Tại đây, ông được biên chế vào Đại đội 21, Trung đoàn 24, Sư đoàn 304, tiếp tục đảm nhiệm nhiệm vụ bảo vệ chỉ huy sở trung đoàn bằng pháo 12 ly 7. Ông chậm rãi kể: “Giữa mưa bom bão đạn, ông và đồng đội luôn phải đối mặt với hiểm nguy rình rập từng giờ, từng phút. Nhưng vượt lên tất cả là ý chí kiên cường và niềm tin sắt son vào ngày đất nước thống nhất.” nghe ông kể mà tôi rưng rưng nước mắt.
Đến cuối năm 1969 - đầu năm 1970, theo sự phân công của tổ chức, ông được trở ra miền Bắc học quân y tại Bệnh viện Quân y 109. Từ người lính trực tiếp cầm súng nơi tuyến đầu, ông bước sang một nhiệm vụ mới – chăm sóc và cứu chữa thương bệnh binh. Năm 1971, ông được điều về công tác tại Bệnh viện Quân y 110, thuộc Cục Hậu cần – Quân khu 1. Tại đây, ông nội tôi bước vào một “chiến trường” không tiếng súng nhưng đầy thử thách. Mỗi ngày, ông đối diện với những thương binh, bệnh binh mang trên mình vết thương chiến tranh, có người đau đớn về thể xác, có người suy sụp tinh thần. Với tất cả sự kiên trì, nhẫn nại và tận tâm, ông ân cần chăm sóc từng bệnh nhân, từ thay băng, theo dõi diễn biến vết thương đến động viên tinh thần cho đồng đội. Có những ca bệnh nặng phải điều trị kéo dài, ông vẫn bền bỉ theo sát, không nản lòng, chỉ mong từng người lính sớm hồi phục sức khỏe. Những đêm trực dài trong bệnh viện, khi mọi thứ chìm vào yên lặng, ông vẫn lặng lẽ đi từng giường bệnh, kiểm tra lại tình trạng của thương bệnh binh. Ông thường nói với họ bằng chính trải nghiệm của mình: rằng đã là người lính thì không được đầu hàng đau đớn, phải tin vào ngày mai. Có lẽ chính sự đồng cảm sâu sắc của một người từng sống giữa chiến tranh đã giúp ông trở thành chỗ dựa tinh thần vững chắc cho nhiều thương bệnh binh trong những thời khắc khó khăn nhất.
Đến tháng 10 năm 1974, do sức khỏe suy giảm nghiêm trọng sau nhiều năm phục vụ liên tục, ông được cho về mất sức lao động 75%, được công nhận là Bệnh binh hạng 2. Chiến tranh đã để lại trong ông nhiều di chứng, nhưng chưa bao giờ lấy đó làm lý do để than phiền. Ông trở về với cuộc sống đời thường bằng sự điềm đạm, giản dị và niềm tin sâu sắc vào giá trị của hòa bình.
Đối với tôi, ông nội không chỉ là nhân chứng của một thời lịch sử hào hùng, mà còn là người thầy dạy tôi bài học lớn nhất về lòng yêu nước, sự kiên nhẫn, tinh thần trách nhiệm và lòng nhân ái. Mỗi câu chuyện ông kể, mỗi kỷ niệm ông chia sẻ đều nhắc nhở tôi rằng hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng biết bao mồ hôi, xương máu và sự hy sinh thầm lặng. Tôi nghẹn ngào khi tay ông run mân mê tấm Huân chương kháng chiến đã sờn cũ theo tháng năm, giấy có thể phai mờ nhưng sự hy sinh của ông cũng như các đồng đội của ông thì trường tồn mãi theo thời gian.

Là cháu nội của ông Vũ Đình Điện, tôi luôn cảm thấy tự hào và biết ơn sâu sắc. Tôi tự nhủ sẽ cố gắng học tập, rèn luyện, sống có ích cho gia đình và xã hội, để xứng đáng với truyền thống cách mạng và những gì ông đã hiến dâng trọn đời cho Tổ quốc.


