Ninh Hòa – ký ức quê hương và dấu ấn kháng chiến
Đoạn văn là dòng hồi tưởng giàu cảm xúc về quê hương Ninh Hòa (Khánh Hòa) – một vùng đất trù phú với thiên nhiên, sản vật phong phú và nét đẹp văn hóa dân gian đặc sắc. Xen lẫn niềm tự hào là nỗi xót xa về quá khứ bị bóc lột, cùng ký ức sâu đậm về những năm tháng kháng chiến, đặc biệt là hình ảnh Hòn Hèo – biểu tượng của tinh thần đấu tranh kiên cường và nghĩa tình quân dân.
| Ai cũng có quê hương và ai cũng nặng trĩu một tình cảm, một trách nhiệm với quê hương. Một điều may, cũng có thể là một hạnh phúc đối với tôi, kể từ giây phút tách khỏi cuộc sống gia đình làm một thành viên trong đội ngũ Vệ quốc đoàn1 tôi đã chiến đấu một thời gian dài trên mảnh đất quê mình, cho đến khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được kỷ kết, tháng Bảy năm 1954. Ninh Hòa thuộc tỉnh Khánh Hòa. Ninh Hòa là thị trấn nằm trên đường số 1 chưa được trăm nóc nhà. Một phố thị thật nhỏ với ngôi chợ chu vi chưa đầy 500 mét, có hai gian nhà ngói kiểu cũ và hai dãy phố ngắn hẹp nằm khép hai bên. Nhưng Ninh Hòa không phải chỉ có thế. Ngoài bông lau, ván trắc, cẩm lai là những loại gỗ có tiếng, rừng núi Ninh Hòa còn chứa bao nhiêu là của quý. Người thợ săn chỉ cần vác súng ra khỏi thị trấn độ mươi cây sô là có thể hạ được hươu, lợn rừng, có khi cả hổ, về bán chợ mai. Và mỗi khi tàu lửa từ Sài Gòn ra, từ Hà Nội vào qua ga Ninh Hòa đều dừng lại nhận hàng đặc sản từ nơi đây. Các toa đen chở hàng nhận đầy ắp gạc nai đủ kiểu. Gạc nai, lộc nhung của Ninh Hòa ngày xưa đã từng chở bán khắp noi trong nước, nhất là miền Bắc. Chiếc mắc áo bằng nguyên cả cái sừng nai Cà Tung, ở đây chỉ là một vật bình thường, gần như nhà nào cũng có. Hồi ấy khách qua lại Ninh Hòa thường không quên mua một ít hương trầm Vạn Lợi về thắp trên bàn thờ ông vải hay lễ bái đền chùa. Cái mùi thơm dịu dàng, thanh khiết của hương trầm Vạn Lợi đã góp phần làm tên tuổi Ninh Hòa được những người yêu hương trầm khắp nước biết đến. Còn chính lõi trầm cùng với kỳ nam là hai vị thuốc quý trong tủ thuốc Đông y, đã từng được xuất khẩu ra các nước Đông Nam Á, sang tận Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên. Đi về bờ biển Hòn Khói là bắt gặp những ô ruộng muối nối nhau như một bàn cờ to, chiếm mấy thôn liền. Muối Hòn Khói đã một thời mang lại vinh dự cho Ninh Hòa. Những người sản xuất nước mắm ở Phan Thiết, ở Hải Phòng ngày xưa có thể không biết Ninh Hòa nhưng lại biết Hòn Khói. Muối Hòn Khói to hạt, chóng tan, là loại muối để làm chượp cá tốt nhất của nước ta hồi ấy. Ngày trước Hải Phòng đã từng nhận mỗi năm hàng ba bốn vạn tấn muối Hòn Khói... Quê tôi còn có thuốc lá Lộc Ninh, thuốc lá Tân Xuân, nguồn nguyên liệu vô tận cho hãng thuốc lá Cô-táp ngày trước. Cam Đại Tân của Ninh Hòa vỏ xanh mà ruột vàng ngọt thanh chẳng kém cam Xã Đoài. Quýt vườn Ninh Hòa đỏ da, lớn quả, có hương vị quýt đường của Mỹ Lợi, Hương Cần. Ruộng Đồng Hương phì nhiêu, vườn Đại Tâm màu mỡ, bát cơm Nanh Chồn thơm phức, cây mía Dán Dòn xốp và ngọt thanh... tất cả làm nên một Ninh Hòa giàu đẹp. Đó là những gì đã để lại trong ký ức tôi - một ký ức vừa pha trộn niềm tự hào vừa gợi nhớ nỗi buồn cảm... Bởi cái giàu đẹp thời xa xưa đó đâu thuộc về nhân dân lao động! Ngày xưa triều đình Huế đã sai tay chân vào tận Ninh Hòa tìm những bộ ván gỗ trắc, cẩm lai quỹ giá đưa về trang điểm cho cung điện. Bọn thực dân Pháp cũng đã lệnh cấm rừng, dành riêng cho chúng khai thác những loại gỗ quý. Và bọn tư sản, địa chủ ở địa phương đã giàu nhanh, giàu to trong việc bóc lột sức lao động của những người thợ rừng quê tôi. Bị dồn đẩy vào bước đường cùng cực, những người thợ rừng đó đã đi hết tháng này sang tháng khác trong các cánh rừng già không vết chân người, đương đầu vời hùm rắn, lắm khi phải ăn trái cây, uống nước suối để tìm trầm đưa về nộp cho chủ. Không ít những người thợ rừng đã phải bỏ mình nơi rừng sâu cho sự giàu có của bọn chuyên nghề bóc lột. Cách mạng tháng Tám mở ra cuộc đổi đời lớn cho toàn dân tộc. Như những người nghèo khổ khác, gia đình tôi cũng được cấp một sào đất để dựng nhà ở. Tuy chỉ là căn nhà tranh đơn sơ, chật hẹp nhưng là nhà của minh, từ nay hết cảnh ăn đợ, ở nhờ. Quê tôi có Hòn Hèo nổi tiếng. Nó là một bán đảo rộng trên một trăm sáu mươi cây số vuông, với một dãy núi cao đột xuất (đỉnh cao nhất tới 819 mét) nhô lên giữa biển lúa mênh mông, tạo nên một dáng vẻ đa dạng, vừa thanh bình, vừa gồ ghề gân guốc, bao quanh dưới chân núi là các làng xóm mà tên đất đã đi vào lịch sử: Lệ Cam, Bà Bố, nơi cơ quan huyện Ninh Hòa đóng. Đầm Vân là hậu cứ của Tỉnh ủy Khánh Hòa. Bãi biển Hòn Hèo đẹp, cát trắng mịn kéo dài ra xa mỗi khi thủy triều rút. Đây là nơi hàng tuần, các cơ quan quân, dân, chính, Đảng tỉnh thường tổ chức những buổi luyện tập quân sự, tha hồ lăn lê bò toài trên bãi cát rộng và sạch không gây lấm bẩn. Ngang về phía nam Hòn Hèo cách bờ chừng hai cây số là Hòn Thị, một đảo có nhiều hang động hiểm trở, đã một thời cơ quan theo dõi địch của cấp trên làm việc ở đây. Đi về phía tây, là thôn Tiên Du có một thắng cảnh nổi tiếng: Chùa Hang, nơi mà nhà sư Thích Quảng Đức đã một thời đến tu hành và có tham gia giúp đỡ đội công tác của ta mỗi khi về đây hoạt động. ---------------------- 1. Nay là Quân đội nhân dân Việt Nam. Đối với quân và dân Khánh Hòa, Hòn Hèo đã đi vào lịch sử như một biểu tượng của tinh thần bất khuất và niềm tin của nhân dân đối với cách mạng suốt cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. |


