Nợ nước trên tình nhà
Bất chấp sự khốc liệt của chiến tranh, nhiều mối tình đã nảy nở, đơm hoa, tiếp thêm sức mạnh giúp những người lính vượt qua gian khó. Ác liệt là thế, nhưng tình yêu đôi lứa vẫn nảy nở và bền chặt như lẽ tự nhiên, bất chấp khoảng cách đơn vị ở xa nhau, số lần gặp nhau thưa thớt đến quặn lòng. “Việc riêng xen lẫn việc chung/ Tình yêu nảy nở giữa rừng Trường Sơn...” là những vần thơ ông Lê Hữu Toàn (TP Hải Dương) viết tặng vợ, bà Mai Thủy Chiến - người đồng đội năm xưa.
Là bộ đội thông tin, phục vụ ở chiến trường Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, cuối năm 1973, ông Toàn quen bà Chiến là nữ cán bộ Trạm Sốt rét (Ty Y tế Quảng Trị) được tăng cường từ tỉnh Thái Bình vào. Thấy bà Chiến và các nữ đồng đội gồng mình chiến đấu với những cơn sốt rét, gầy gò và thiếu thốn trăm bề nhưng không nề hà những nhiệm vụ khó khăn, vẫn băng rừng, lội suối đi khám chữa bệnh cho nhân dân ở các làng bản xa xôi.
Chung một lòng nồng nàn yêu nước và chiến đấu hết mình cho ngày độc lập phía trước, nên họ càng thấy thương nhau vô cùng. Tình yêu nước và những nhớ thương của lứa đôi kéo họ lại gần nhau. Biết khoảng cách xa nhau, thư tay cũng thi thoảng lắm mới nhờ gửi được nên họ tự động viên nhau từ xa. Hai trái tim cứ thế cùng chung nhịp đập, như trong thơ gửi người yêu, ông Toàn đã viết: “Cuộc đời phải có niềm tin/Đến ngày thống nhất sẽ tìm được nhau”. Đúng là họ đã về bên nhau vào những tháng ngày thống nhất đất nước đã đến gần. Cuối năm 1974, ông bà được đơn vị tuyên bố nên vợ nên chồng.
Nhưng việc nước nào đã xong, cưới nhau rồi, họ lại trở về đơn vị, tiếp tục xa nhau biền biệt vì những công việc sau cuộc chiến vẫn còn bộn bề. Phải đến khi đất nước hoàn toàn thống nhất, họ mới được nghẹn ngào nắm tay nhau. Rời quân ngũ, trở về công tác, sinh sống ở Hải Dương, an vui với cuộc sống bình dị đời thường, hết tiếng bom đạn, hai ông bà chăm chút cho nhau mỗi ngày, như gìn giữ những ký ức đã qua của một mối tình son sắt.
Vợ chồng nhà giáo Lê Nguyệt Bảo và Phạm Hoài Thủy. Rất nhiều tình yêu thời chiến được đền đáp xứng đáng khi đôi lứa gặp lại nhau, tình yêu hòa chung với niềm vui độc lập dân tộc. Nhưng có không ít gia đình, cặp đôi mãi mãi lìa xa nhau, người ở lại chỉ còn biết nhớ về người ra đi qua những ký ức, những cánh thư dặn dò, chứa chan nhung nhớ.
Dẫu vậy, nợ nước phải trên tình nhà, lòng yêu nước thiết tha khiến tình yêu ấy dù đã cách xa nhưng chưa bao giờ phai nhạt. Hơn nửa thế kỷ đã đi qua kể từ ngày chồng hy sinh tại chiến trường, trong những ngày kháng chiến chống Mỹ khốc liệt, nhưng chưa một lần nào bà Phan Thị Bé, vợ liệt sỹ Phan Huy Chương thôi khắc khoải nhớ thương. Điều ở lại với bà là 30 bức thư ông gửi về từ chiến trận. 30 bức thư, lúc là nồng nàn, khi lại khắc khoải nhớ thương, rồi động viên, khích lệ vợ con, và cũng chất chứa cả những hờn giận như bao đôi trẻ khác. Nhưng bao trùm lên tất cả là niềm tin vào thắng lợi, vào ngày đoàn viên, sum họp khi đất nước thống nhất.
“Anh thương em, anh nhớ em, anh ôm em vào lòng. Anh hôn em nhiều cái, em có hồi hộp không. Anh sẽ gục đầu vào vai em, vào má em. Em ơi! Em của lòng anh thương nhớ, em của riêng anh mà thôi”.
Lời hẹn ước “anh sẽ về với em, khi nước nhà thống nhất” của người lính gửi vợ ở quê nhà đã không thành sự thật. Nhưng, cũng như lời ông viết, “Chiến tranh là vậy. Anh phải xác định tư tưởng cho em trước… Anh là chỉ huy, là Bí thư chi bộ, là chính trị viên trong đơn vị, phải gương mẫu, dũng cảm hơn ai hết…”, bà hiểu rằng, là người lính, chồng bà, hay bất cứ người chiến sỹ nào đều có thể ngã xuống. Với họ, sống là phải anh dũng, hy sinh phải vẻ vang để bảo vệ Tổ quốc. Vì thế, là hậu phương, là người ở lại, bà càng phải mạnh mẽ để tiếp tục sống và lo cho các con.
Khói lửa chiến tranh càng khiến tình yêu thêm rực rỡ. Dù đó có là những sự hy sinh, là những ngày dài biền biệt không biết đến khi nào sẽ gặp lại. Nhưng với những mối tình thời chiến, dẫu có ác liệt thế nào, thì “đêm ngày trong chiến đấu, anh với em, sống vẫn gần nhau”.


