NƠI BẦU TRỜI TÌNH BẠN
Tháng 9-1989, tại Phnôm Pênh, Nhà nước Campuchia tổ chức lễ trao huân chương cao quý cho Quân tình nguyện Việt Nam nhân đợt rút quân cuối cùng. Trong đội hình đại biểu có nhiều cán bộ không quân như Trung đoàn 917, 918, 901… – những đơn vị đã hơn 10 năm chiến đấu, chi viện, cứu thương và giải vây cho các mặt trận 479, 579. Các phi công trực thăng và tiêm kích đã thực hiện hàng trăm trận đánh, hàng nghìn chuyến bay cứu thương, yểm trợ, góp phần giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủn
Hôm ấy bầu trời Phnôm Pênh như rực rỡ hơn. Dòng Tônglêsáp như mang thêm gió mát từ Biển Hồ về.Và những đền đài, cung điện nguy nga đã bao đời soi mình trên tấm gương viền quanh lấp lánh đó như cũng lộng lẫy hơn. Cả những nữ thần suốt năm tháng đứng trên các cung điện ấy im lặng ngắm nhìn cảnh sắc Phnôm Pênh như đã thả đôi cánh Apsara xuống mà hoà nụ cười Bayon vào tiếng nhạc hào hùng trong niềm vui lớn của đất nước Chùa Tháp và đoàn quân tình nguyện Việt Nam.
Lễ trọng thể Nhà nước Cam-pu-chia trao tặng Huân chương cao quý cho quân tình nguyện Việt Nam trong đợt rút quân cuối cùng tháng 9 năm 1989 này. Có thể gọi đây là ngày Hội mừng công lớn nhất của Quân tình nguyện Việt Nam trên đất nước Cam-pu-chia trước ngày cả nước bạn lưu luyến chia tay với tất cả lòng biết ơn, thương nhớ với những người anh em, đồng chí đã vì mình mà hy sinh xương máu để đưa nhân dân, đất nước mình thoát khỏi nạn diệt chủng và góp phần hồi sinh cho cả một dân tộc đã có nền văn hoá ăngco huy hoàng.
Những gương mặt đầy xúc cảm của bạn đang là hình ảnh về sự tri ơn của cả nước Cam-pu-chia thu nhỏ lại Họ đang cùng xúc động như đồng chí Tổng bí thư Hêng-xom-rin lúc ôm hôn các tướng lĩnh, sĩ quan Quân tình nguyện Việt Nam sau khi gắn Huân chương cao quý của Nhà nước Cam-pu-chia lên quân kỳ Việt Nam...
Trong các sĩ quan đại diện đầy đủ cho các mặt trận, các đơn vị của Quân tình nguyện Việt Nam, tôi sung sướng thấy lần này có nhiều đại biểu mang quân hàm màu xanh in cánh én của mình.
Đấy là Đại tá Lương Thế Phúc, sư đoàn trưởng sư đoàn không quân 370, là trung tá Nguyễn Thanh Mua, trung đoàn trưởng trung đoàn không quân máy bay lên thẳng chiến đấu 917, trung tá Nguyễn Duy Lê, trung đoàn trưởng trung đoàn không vận tải 918 và trung tá Nguyễn Văn Đức, trung đoàn trưởng trung đoàn căn cứ không quân 901
..Trước buổi lễ lớn này, tôi vừa theo tổ bay của Nguyễn Minh Tuấn bay một chuyến bay đường dài - chuyến bay mà như đại tá, phó sư đoàn trưởng ĐinhVăn Bồng (nay là Thiếu tướng - Giám đốc Học viện PK-KQ) nói là: "Đã bay được hai phần ba đất nước Cam-pu-chia".
Đó là chuyện đi bằng trực thăng và đến nhiều nơi: Bộ Tư lệnh các mặt trận 479, 579 để chào cám ơn và hiệp đồng cuối cùng về đợt rút quân, các sân bay ở phía Bắc và phía Tây để kiểm tra việc rút quân của không quân ta ở đây. Máy bay sẽ cất cánh từ sân bay Pô-chen-tông và trở về hạ cánh ở sân bay này. Như vậy sẽ bay một vòng kín rất rộng trên vùng trời của hai phần ba đất nước Cam-pu-chia. Những ngày chuẩn bị cho đợt rút quân cuối cùng của Quân tình nguyện Việt Nam ở sân bay Pôchentông thật nhộn nhịp. ở đây, ngay trước giờ máy bay cất cánh, tôi đã gặp nhiều đồng đội ở các quân chủng, binh chủng bạn và cả các bạn không quân Cam-pu-chia đang cùng bận rộn cho một việc chung mang ý nghĩa lớn về chính trị và cả về lịch sử này. Trên gương mặt họ vừa lộ vẻ hân hoan với thành quả có được hôm nay, vừa còn ghi đậm dấu ấn của sự hy sinh, chịu đựng gian nan đến tột cùng trong suốt hơn 10 năm qua. Vẫn còn như chưa hết bàng hoàng, căm phẫn bầm tím tim gan trước tội ác diệt chủng chưa từng có trong lịch sử Cam-pu-chia của bọn Pôn Pốt với đồng bào của chúng và cả tội ác trời không dung, đất không tha của lũ dã thú này với nhân dân Việt Nam ở biên giới phía Tây Tổ quốc ta. Những gương mặt ấy tất cả như đang cùng ẩn hiện ở bên tôi khi chiếc trực thăng nâng mình lên khỏi đường băng Pôchentông lúc này. Và nó đã làm cho những điều suy tưởng về quân đội ta cứ như chất men thấm dần và luôn bừng lên trong tôi khi máy bay qua các địa tiêu, nơi ghi dấu tích về chiến công, về lòngvị tha cao cả của Quân tình nguyện Việt Nam mà đại tá Đinh Văn Bồng đã chỉ cho tôi. Anh còn nhớ rõ cả địa danh và kể chi tiết hơn những vị trí mà quân ta đã chiến đấu diệt được nhiều sinh lực của quân Pôn Pốt, hoặc đã vượt qua lửa đạn cấp cứu, tiếp kịp thời cho các chiến sĩ bộ binh ta trong các trận đánh ác liệt giúp bà con Khơ-me sau các trận khủng bố, trả thù của lũ diệt chủng đang vô vọng trong những cù lao, bản làng, những cánh rừng bạt ngàn bằng phẳng và cả hơn 100 cây số dọc theo Biển Hồ.
hạ cánh dã chiến mà máy bay của ta chiến đấu và đã giành lại khỏi bàn tay tử thần đối với hàng ngàn đồng đội, cũng như các bạn Cam-pu-chia ở đây. Bởi chỉ riêng trung đoàn bay 917 của Nguyễn Minh Tuấn đang cầm cần lái đưa chúng tôi đi đây, trong hơn 10 năm qua đã đánh trên 300 trận, chở gần 4 ngàn thương binh, bệnh binh, trong đó quá nửa là đã cấp cứu từ trên các chốt, các mặt trận về thì làm sao các anh nhớ được. Nhớ được có chăng là trung đoàn trưởng Nguyễn Thanh Mua, hoặc Mai Văn Vận, An Thế Quang, Nguyễn Minh Tuấn, Nguyễn Văn Thiệp, những phi công như Mua đã quá quen thuộc với từng cù lao, cánh rừng, ngọn núi ở đây qua bao nhiêu chuyến bay không nhớ chỉ nhớ là đã bay đến hầu hết các chốt mà có chốt suốt đời không quên bởi máy bay của mình đã mang đầy vết đạn trở về. Lúc này trong trí nhớ của tôi lại hiện lên hình ảnh chiếc trực thăng với ba hàng sao đỏ in dầy trên khoang lái được đặt trang trọng ở bảo tàng Quân chủng, dưới đó là những dòng chữ ghi đậm trên tấm bảng nhỏ: "Trên chiếc máy bay trực thăng vũ trang này, phi công anh hùng Nguyễn Đình Khoa cùng các đồng chí Lê Đức Tình và Trần Văn Luỹ đã dẫn đầu biên đội đánh thắng trận đầu tiên diệt một căn cứ lớn của địch tại điểm M. Nó được nhiều tổ bay sử dụng đánh 14 trận lớn ở biên giớiTây Nam và trên đất Cam-pu-chia khi Quân tìnhnguyện Việt Nam giúp nhân dân Chùa Tháp thoát khỏi nạn diệt chủng tạo điều kiện cho bộ đội ta tiến công thắng lợi giành lại nhiều vùng đất quân địch đã chiếm".
Nguyễn Đình Khoa đã từng là chỉ huy phi đội rồi trung đoàn trong những ngày đầu đánh quân Pôn Pốt của trung đoàn này. Anh cùng các phi công: Tạ Đông Trung, Âu Văn Hùng, Lê Thương, Nguyễn Văn Kháng đã được phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam chủ yếu bằng các chiến công, thành tích trên mặt trận chống bọn Pôn Pốt để bảo vệ biên giới phía Tây Nam của Tổ quốc và cứu nhân dânCam-pu-chia thoát khỏi nạn diệt chủng. Trong 5 anh hùng đó, hình ảnh chiến đấu kiên cường, hy sinh lẫm liệt của phi công Tạ Đông Trung đã như ngọn đuốc thắp sáng lên trong lòng toàn thể cán bộ, chiến sĩ không quân chúng tôi về ý chí, tư thế anh hùng, bất khuất giờ đây đang như hiện lên trước mắt tôi. Bằng chiếc máy bay phản lực F-5E - Loại máy bay thu được của Mỹ -nguỵ trong cuộc Tổng tiến công mùa xuân năm 1975, Tạ Đông Trung đã đánh mấy chục trận, oanh kích có hiệu quả vào nhiều cứ điểm và đội hình của quân Pôn Pốt, tạo điều kiện cho bộ binh ta chiến thắng trong trận định mệnh ở Kôngpôngchàm hôm ấy, sau khi đã cùng đồng đội diệt gọn cả một ổ đề kháng trọng yếu có hoả lực mạnh của một tiểu đoàn địch, máy bay của Trung đã bị trúng đạn. Không còn cách nào có thể bay về hạ cánh, anh buộc phải nhảy dù xuống vùng đất đang có cả quân Pôn Pốt và quân ta. Thấy cánh dù của anh bung ra, từ xa lũ Pôn Pốt đã hò nhau kéo tới quyết bắt sống phi công "Duôn Việt". Biết rằng trên không anh em trong phi đội vẫn đang quần đảo, yểm trợ để chờ đồng đội tới tiếp cứu, nhưng trước mắt sẽ phải độc thân chiến đấu nên với những trái lựu đạn và một khẩu súng ngắn bên mình lúc vừa chạm đất, Trung đã tìm ngay một vị trí có lợi để đánh trả bọn Pôn Pốt, quyết một mất, một còn với chúng. Bản đồ bay cùng các giấy tờ khác Trung cũng liền hủy ngay khi tiếng súng thị uy và tiếng hò hét kêu gọi đầu hàng của bọn chúng đã dội vào tai anh. "Phải sống anh hùng, chết vẻ vang, quyết không để mình rơi vào tay địch!". Chắc hẳn Trung đã tự nhủ mình như thế nên anh đã trả lời tiếng kêu gọi "hạ súng đầu hàng" của chúng bằng những trái lựu đạn và những phát súng ngắn liên tiếp tung ra và nhả đạn khi chúng đến gần sát bên mình. Khi còn một viên đạn cuối cùng. Trung đã đứng thẳng dậy hiên ngang nhắm thẳng vào một tên Pôn Pốt trước mặt và xiết cò trước lúc anh ngã xuống. Khi ấy các chiến sĩ bộ binh ta cũng kịp tới. Nhìn xác chết những tên diệt chủng Pôn Pốt nằm quanh thi thể của Tạ Đông Trung, anh em ta đã vô cùng cảm phục và xúc động, bởi đã hiểu ngay được người phi công - đồng đội thân yêu của mình đã kiên cường, dũng cảm chiến đấu và hiên ngang, bất khuất như thế nào? Tiếng gọi và bàn tay đập nhẹ vào vai tôi của đại tá Đinh Văn Bồng chỉ ra các cảnh đẹp của Biển Hồ đang nhuộm sáng vàng nắng sớm mai đã cắt đứt dòng suy tưởng của tôi.
Quả là trời đất đã cưng chiều chúng tôi. Thời tiết Cam-pu-chia sớm nay rất đẹp. Nắng nhẹ, trời trong suốt mênh mông một màu hồng nhạt. Tầm nhìn ngút ngàn tới tận nơi như đang có muôn ngàn tấm khảm trai ghép lại. Từ trên trực thăng thả tầm mắt xuống, bên vẻ đẹp về cảnh sắc thiên nhiên, chúng tôi có thể thấy được cả cảnh hồi sinh của nhân dân Cam-pu-chia trên các quốc lộ, phố chợ, bản làng. Bức tranh đó luôn được chấm phá bằng những hàng cây thốt nốt sừng sững cao xanh, và những cô gái Khơ-me như đang khoe mình trong những tấmxà-rông rực rỡ. Đến lúc này máy bay hạ độ cao, sà xuống một bãi trống bên bìa rừng, tôi mới biết rằng mình cùng đoàn kiểm tra đã tới bản doanh Bộ Tư lệnh mặt trận 579.
Thiếu tướng, Tư lệnh mặt trận Lê Mẫn đã tiếp chúng tôi ngay khi máy bay vừa hạ cánh chừng mươi phút. Nhìn phong cách bình dị, thân tình cùng cái phòng khách với vật dụng toàn những thứ bình thường mang nhãn hiệu Việt Nam và nhìn rộng ra bản doanh đang ẩn mình dưới bóng những cây xanh của các anh, tôi bỗng có cảm giác như mình đang sống trong bản doanh của một binh đoàn thời chiến ở nước nhà.
Thiếu tướng rất chăm chú nghe anh Bồng báo cáo. Khi nghe xong, anh giải quyết nhanh gọn ngay từng việc và không từ chối một yêu cầu nào của đại tá Bồng.
Tôi chợt hiểu ra là: Các chiến sĩ ở đây, kể cả các vị tướng đứng đầu mặt trận phải cận kề với cái sống và cái chết trong từng phút, từng giờ nên họ càng yêu quý, gắn bó với các chiến sĩ không quân ta hơn khi họ được kịp thời cấp cứu, chi viện cứu được tính mạng không phải hàng trăm mà hàng ngàn đồng chí bởi những cánh bay của quân đội mình.
Với lẽ ấy cho nên Thiếu tướng đã cảm ơn, ca ngợi sự hiệp đồng, chi viện của không quân ta với mặt trận bằng những lời lẽ rất cảm động, chân thành. Rồi sau khi Thiếu tướng nhìn về phía đại uý Nguyễn Hữu Hồ, đại uý Lê Danh Nam - hai cán bộ phụ trách sân bay Stungtreng cùng đi sang chào Tư lệnh với chúng tôi, khen anh em ở đây có trách nhiệm cao, đoàn kết tốt, kỷ luật nghiêm, xong Thiếu tướng đã xúc động kể lại một số chuyện kỷ niệm sâu sắc về không quân với mặt trận.
Trong những kỷ niệm ấy, anh tâm đắc nhất với trận không quân ta đã chở quân đổ bộ giải vây kịp thời cho một đơn vị của mặt trận. Ngày ấy, như anh nói:"Các anh ở sở chỉ huy đã cùng thắt tim lại rồi lại cùng nắm tay nhau mà thở phào nhẹ nhõm".
Kể xong, anh nhìn chúng tôi hỏi:
- Thế mấy đồng chí phi công đã vượt qua lửa đạn hạ cánh được đúng vào bãi đỗ dã chiến ngày ấy, bây giờ có khoẻ không? Có tham gia phục vụ đợt rút quân cuối cùng này không? Đồng chí chỉ huy trực tiếp ấy tên là gì?...
- Thưa Tư lệnh, anh em đều khỏe cả: Dạo ấy về, tất cả anh em trong 5 tổ lái đều được khen thưởng. Trong số đó có đồng chí chỉ huy ngày ấy là Nguyễn Thanh Mua, bây giờ là trung tá, trung đoàn trưởng của trung đoàn này.
Anh Bồng trả lời đồng chí Tư lệnh. Còn tôi, trận đánh mà Tư lệnh vừa nhắc lại ấy, tôi lại thấy nó như vừa mới diễn ra bởi, trước khi sang đây, tôi vừa được anh em ở đoàn bay 917 này kể lại.
Phải nói rằng, đây là một cuộc đổ bộ đường không mà tôi đã nghe với đầy niềm thích thú.
Trận ấy, Nguyễn Thanh Mua dẫn đầu đội hình 5 chiếc trực thăng chở một đại đội tinh nhuệ của ta bay đến địa điểm X, giữa rừng phía Bắc Cam-pu-chia để giải vây cho một đơn vị của mặt trận 579 trong điều kiện khẩn cấp sắp bị quân Pôn Pốt tổ chức đánh tiêu diệt. Bởi thế, bãi đáp xuống phải chuẩn bị gấp nên rất hẹp. Khi Mua dẫn đội bay vượt được chặng đường dài mới lạ hơn 300 km tới được toạ độ cấp cứu thì ánh lửa tín hiệu trên bãi đỗ đã tàn, chỉ còn đoán được nó ở khu vực địch bắn lên không tiếc đạn.
Trước những thử thách ấy, các chiến sĩ bị vây ở đây đã hết hy vọng, bởi thấy máy bay cứ sà xuống rồi lại bay lên. Nhưng với Mua, anh không thể bỏ đồng đội, bó tay quay về. Bằng kinh nghiệm nhiều lần đi cứu thươngbinh trên các chốt, anh đã đoán địch chính xác, tìm ra được bãi đỗ và lần thứ ba hạ xuống, anh đã đưa được vòng quay chong chóng đúng khít vào khoảng trống an toàn. Một phần năm bộ đội chi viện vừa nhảy hết từ trong máy bay ra, Mua lại cho chiếc trực thăng nâng mình lên ngay để chỉ huy các chiếc sau tiếp tục hạ xuống đổ bộ.
Đột phá đã mở. Các chiếc sau theo sự chỉ dẫn của Mua, từ trên cao nối nhau lần lượt hạ cánh. Cả đại đội tinh nhuệ của ta được đổ xuống toả ra an toàn và cũng tới lúc này những làn đạn của địch nhằm vào tốp máy bay của Mua thưa dần rồi tắt hẳn. Một giờ sau khi Mua đã dẫn cả tốp 5 chiếc máy bay quay về, gần tới sân bay với đôi cánh và tâm hồn lâng lâng thì ở đây các chiến sĩ tinh nhuệ đã gặp được hết những đồng đội bị bao vây. Họ ôm chầm lấy nhau giàn giụa nước mắt cùng hướng cả về phương trời, nơi những chiếc trực thăng vừa bay đi.
Nguyễn Thanh Mua cùng các đồng chí phi công trong tốp trực thăng chiến đấu của anh hôm ấy không thể thấy được những giọt nước mắt xúc động và sung sướng của các chiến sĩ bộ binh ta khi ấy. Cũng như lúc này, các anh không có may mắn được ngồi ở đây để nghe những lời ngợi khen chân thành của đồng chí Tư lệnh Mặt trận về các anh. Tình cảm nồng nhiệt cùng với những lời khen chân thành ấy như nâng cánh thêm cho chúng tôi từ Stungtreng bay về vùng trời Xiêm Riệp -Nơi có bản doanh của Mặt trận 479.
Ở Mặt trận 479 này, các đồng chí lãnh đạo chỉ huy đang chia nhau đi kiểm tra các đơn vị nên chúng tôi không được gặp mặt, tiếp kiến. Nhưng chỉ một giờ sau, đồng chí Thiếu tướng Lê Chí Thuận - Phó tư lệnh mặt trận đã ra tận nhà ga sân bay Xiêm Riệp - Nơi ở của đơn vị căn cứ không quân do Trần Quốc Bình và Nguyễn Đăng Hiên phụ trách trực tiếp làm việc với đoàn chúng tôi.
Cũng như các đồng chí ở Mặt trận 579, Thiếu tướng Lê Chí Thuận đã tỏ ra rất vui mừng được gặp toàn đại diện của không quân để chuyển lời cảm ơn của cán bộ, chiến sĩ của Mặt trận về Bộ Tư lệnh Quân chủng và cũng chân tình khen ngợi các chiến sĩ không quân ta, trong 10 năm qua đã hiệp đồng chặt chẽ, nhiều lần cứu nguy cho các đơn vị của Mặt trận, góp phần quan trọngvào các chiến công của Mặt trận trên đất nước Chùa Tháp anh em. Còn mọi việc hiệp đồng giữa mặt trận với không quân trong đợt cuối cùng rút quân cũng đã diễn ra rất nhanh gọn thân tình qua Thiếu tướng Phó Tư lệnh với đại tá Đinh Văn Bồng.
Khi chúng tôi vừa tiễn đồng chí Phó Tư lệnh ra về thì đồng chí Thiếu tướng Tư lệnh Khiếu Anh Lân lại gọi điện đến. Anh Khiếu Anh Lân vốn là một trong những cán bộ đầu tiên của không quân ta cho nên anh đã tỏ ra rất tiếc không gặp mặt được những người anh em, đồng đội mà với anh đã một thời cùng nhau hợp sức xây dựng, chiến đấu trên những cánh bay. Và biết rằng tất cả mọi việc kể cả chuyển lời cảm ơn của mặt trận đến với bộ đội không quân ta, đồng chí phó tư lệnh của mình đã xử sự chu tất, anh vẫn nhắc lại. Nhắc lại không chỉ với cương vị Tư lệnh Mặt trận mà cả với niềm tự hào của một cựu chiến sĩ không quân đối với Quân chủng Không quân về những chiến công và hành động quên mình của "Không quân nhà mình" ở trên đất bạn Cam-pu-chia...
Buông ống nghe xuống, gương mặt đại tá Bồng vẫn chưa hết xúc động khi anh kể lại với tôi về tình cảm nồng nhiệt đó của Tư lệnh Khiếu Anh Lân. Lúc này hai chúng tôi càng hiểu rằng vì sao đồng chí Tư lệnh Mặt trận 479 vốn là cựu hiệu trưởng của Trường Không quân ta lại dốc bầu tâm huyết như vậy. Bởi cán bộ, chiến sĩ trong Mặt trận 479 của anh đã không ít những kỷ niệm sâu sắc về sự gắn bó, thân thương với các chiến sĩ không quân ta. Đã có tới gần 1 ngàn thương binh khó sống nổi nếu không được có cánh bay của ta đi để được cứu chữa kịp thời. Và như tướng Lân đã nói với đại tá Bồng là đã không thể kể hết được những chuyện "suốt đời không quên" về những trận đánh được "không quân nhà ta" yểm trợ, những lần được tiếp tế, giải vây trong các tình thế rất nguy nan, ngàn cân treo sợi tóc.
Ở sân bay Xiêm Riệp, khi mọi việc kiểm tra của phó sư đoàn trưởng đã hoàn tất, chiếc trực thăng do tổ lái của Nguyễn Minh Tuấn điều khiển lại nâng mình lên ở đường băng tiếp tục cuộc hành trình để lại dưới tầm mắt chúng tôi là một bức tranh phong cảnh trầm mặc, cổ kính, thơ mộng, bao la mà tuyệt trần hơn cả là hai đền ăngcothom, ăngcovát, nơi vừa ghi dấu ấn trong tôi về một nền văn hoá ăngco huy hoàng, nơi mà chắc chắn không lâu nữa sẽ thu hút, hội tụ mỗi năm tới hàng ngàn du khách từ bốn phương trời.
Trên đường trở về Phnômpênh, chúng tôi dừng lại ở doanh trại của bộ đội Phòng không - Không quân Cam-pu-chia để chào, chia tay các bạn Khơ-me cùng nhiệm vụ bảo vệ bầu trời.
Đồng chí Phan Nguôn, Tư lệnh bộ đội Phòng không - Không quân của bạn là một phi công to cao, tráng kiện, phong cách đĩnh đạc, cởi mở và còn rất trẻ. Anh nói chuyện bằng tiếng Việt rất thạo, và trò chuyện tiếp chúng tôi vui vẻ, thân tình, đúng như anh em trong nhà. Ở anh, cụm từ "nhờ có các bạn Việt Nam" gần như đã là chủ ngữ mỗi khi nhắc đến các chuyện, các sự kiện của đất nước Chùa Tháp và của các đơn vị thuộc các đơn vị bộ đội Phòng không - Không quân của mình. Phan Nguôn đã thoát khỏi bị những nhát cuốc của bọn PônPốt bổ vào đầu bởi anh đã nhanh trí tìm cách trốn thoát khi chúng đưa anh cùng một số người trong buôn mà chúng gọi là tư sản, tiểu tư sản, trí thức, là phần tử chống đối, "tay chân" của hoàng tộc... đi hành hình, bên một hố chôn người tập thể đã đào sẵn rất sơ sài, nhưng lại nói dối trá là "đi lao động".
Cũng như anh, hầu hết các phi công trong trungđoàn không quân tiêm kích thuộc quyền anh mà chúng tôi đang gặp gỡ lúc này ngày ấy đều đã tinh khôn, tỉnh táo tìm cách trốn thoát được như anh, hoặc được bộ độiViệt Nam kịp thời cứu sống. Trong họ, theo như Phan Nguôn nói: "Không một ai không có những người thân bị bọn diệt chủng Pôn Pốt giết chết rất thảm thương, man rợ bằng dao, bằng cuốc, bằng vồ. Nhiều anh em hiện giờ chỉ còn độc thân sống sót. Cha mẹ, anh chị em ruột thịt của các bạn đó chỉ còn trong hình ảnh tưởng tượng, còn hài cốt đều đang ẩn lẫn trong các kênh mương, kho xương người Khơ-me được moi lên từ các hố chôn người tập thể, các ao, hồ để làm chứng tích cho tội ác diệt chủng cực kỳ ghê tởm của bọn Pôn Pốt".
Tôi xiết chặt tay lời nói chân thành rất tri ân này của anh và tôi định nói thêm: "Đâu phải Pôn Pốt chỉ có tội ác diệt chủng với đồng bào của y mà cùng thời điểm đó, chúng đã khơi lên hận thù, bất ngờ tiến công trên toàn tuyến biên giới hai nước, giết hại và bắt bớ đưa đi thủ tiêu hết sức dã man hơn 30 ngàn người cùng hàng ngàn trường học, bệnh viện, chùa chiền... của Việt Nam do chúng tàn phá mà mãi mãi còn để lại thảm cảnh như thảm cảnh làng Samát. Tội ác đời đời còn nguyền rủa của bọn Pôn Pốt chắc bạn cũng không quên?". Nhưng tôi đã kịp dừng lại, bởi nghĩ rằng, với một người Cam-pu-chia chân chính, như Át xa rông này, tôi không cần phải nói, anh cũng thấm hiểu sâu sắc.
Đoán định ấy đã được thể hiện rõ ngay khi các đồng đội của anh trong đoàn phi công tiêm kích lưu luyến chia tay chúng tôi. Đã cảm động trước nghĩa tình cùng làm nhiệm vụ bảo vệ bầu trời của hai nước hai anh em khi ấy, chúng tôi lại làm xúc động và trào lên nồng nàn hơn trong buổi nhân dân Phnômpênh và các chiến sĩ không quân Cam-pu-chia chia tay, tiễn đưa cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 901 của không quân ta trở về Tổ quốc. Những vòng hoa thắm sắc tấm lòng Cam-pu-chia quàng kín lên người Nguyễn Văn Đức, Phạm Mạnh Phương và cán bộ, chiến sĩ trung đoàn đã hoà cùng vào với nước mắt xúc động, lưu luyến của những bà mẹ,cô gái và những chiến sĩ phòng không - không quân Cam-pu-chia.
Đồng chí Phan Nguôn đã bao lần nói về tình cảm và lòng biết ơn sâu nặng của nhân dân, quân đội, đặc biệt là của lực lượng phòng không - không quân của mình đối với Quân tình nguyện Việt Nam, với riêng bộ đội Không quân Việt Nam, nhưng chưa lần nào xúc động như lần này.



