Nồi Cá Kho Trên Sông Tiền
Vào năm 1973, để cắt đứt đường dây liên lạc đường thủy của ta giữa các xã cù lao thuộc huyện Chợ Mới, hải quân Ngụy đã lập một trạm gác nổi kiên cố ngay tại ngã ba sông. Chúng điều động các tàu tuần tra bọc thép nhỏ (tàu hạm đội) rà soát liên tục các ghe xuồng của bà con đi chợ sớm, khét tiếng kiểm tra nghiêm ngặt bằng cách dùng sào sắt xọc sâu vào mọi ngóc ngách trên ghe.
Lúc bấy giờ, má Bảy – một bà má Nam Bộ ngoài 60 tuổi, là cơ sở giao liên mật uy tín của địa phương – nhận nhiệm vụ đặc biệt khẩn cấp: Phải chuyển một tập tài liệu tuyệt mật của Tỉnh ủy và số tiền đóng góp quỹ kháng chiến của bà con ra vùng ngoài cho ban chỉ huy.
Trọng trách này vô cùng nặng nề khi giặc tại trạm gác nổi này rất ranh ma, chúng không chỉ nhìn bằng mắt mà còn bắt đổ hết đồ đạc, hàng bông trên ghe ra để lục soát. Nếu giấu tài liệu theo cách thông thường dưới đáy ghe, nguy cơ bị phát hiện là rất lớn. Nhìn vào chiếc bếp cà ràng (bếp đất nung miền Tây) đang đỏ lửa trên ghe, má Bảy đã nảy ra một kế hoạch nguy trang độc nhất vô nhị.
Má Bảy đã tận dụng ngay chiếc bếp lò cà ràng và nồi cá kho quen thuộc của người dân sông nước để lập kế hoạch ngụy trang:
Chiếc rế là vật dụng đan bằng tre hoặc rễ cây dùng để lót dưới đáy nồi đất cho khỏi nóng vách ghe. Má Bảy bọc kỹ tập tài liệu tuyệt mật và số tiền quỹ vào nhiều lớp nilon bạt mỏng, ép thật phẳng phiu rồi giấu khéo léo vào giữa các nẹp tre của chiếc rế nồi cũ kỹ, đen sì vì khói bếp. Phía trên chiếc rế, má đặt một chiếc nồi đất lớn đang kho cá lòng tong với nước màu dừa đậm đà, tỏa khói nghi ngút và mùi thơm lừng nghẹt thở. Chiếc nồi đất nóng bỏng tay được đặt ngay trên chiếc rế ngụy trang, ngay cạnh bếp cà ràng đang đỏ lửa.
Buổi sáng hôm đó, chiếc ghe tam bản nhỏ của má Bảy chở ít hàng bông lướt sóng hướng về phía chợ nổi. Khi chiếc ghe vừa áp sát trạm gác nổi, hai tên lính bảo an tay cầm súng AR15, mặt mày hách dịch chặn lại: "Ghe già kia! Đi đâu sớm thế? Bước lên tàu kiểm tra!".
Má Bảy vờ như một bà già đi chợ muộn, mặt khúm núm, cười xời lởi quẹt mồ hôi: "Dạ thưa hai thầy, già chở ít bó rau muống, nải chuối vườn nhà đi chợ sớm kiếm tiền đong gạo. Tranh thủ con nước lên nên đem theo cái bếp kho nồi cá ăn cơm sáng luôn nè hai thầy".
Một tên lính bước lên ghe, bước chân nện gầm rập làm chiếc ghe chao đảo. Hắn cầm cây sào sắt định xọc vào đống rau muống phía sau. Đúng lúc đó, hắn nhìn thấy chiếc nồi đất đang sôi sùng sục, tỏa mùi cá kho thơm phức ngay giữa ghe. Tên lính ngửi mùi thơm, bụng đói cồn cào liền ghé mắt dòm vào. Hắn cầm cây sào sắt định khều thử chiếc rế nồi phía dưới xem có giấu giếm gì không. Má Bảy nhanh trí lấy chiếc khăn rằn lót tay, bưng nguyên chiếc nồi đất nóng bỏng tay đưa sát vào mặt tên lính, cười nói: "Nồi cá lòng tong kho tiêu ngon lắm, già kho đậm đà để ăn dọc đường. Mấy thầy đi gác đêm lạnh, có đói bụng thì già sớt ra tô cho mấy thầy ăn đỡ miếng cơm nóng lấy sức gác nè". Nhìn chiếc nồi đất nóng bốc khói nghi ngút, lại thấy vẻ mặt lam lũ, thật thà và sự đôn hậu của bà má miền Tây, tên lính sợ bị phỏng tay, vội vã lùi lại phía sau. Hắn nghĩ bụng một bà già lụ khụ, đi chợ mang theo nồi cá kho nóng hổi thế này thì làm sao làm cộng quân được. Tên trưởng trạm đứng trên chòi gác ngửi mùi cá thơm cũng phẩy tay: "Thôi, bà già này thật thà quá. Cho ghe đi lẹ đi kẻo trễ chợ nải!".
Nhận được lệnh tha, má Bảy dốc sức chèo chiếc ghe tam bản lướt nhanh qua trạm gác, hướng thẳng về bến hẹn ven bờ sậy.
Chỉ một giờ sau, tại một ngôi nhà lá bí mật, chiếc nồi đất được nhấc ra. Tập tài liệu tuyệt mật cùng số tiền quỹ kháng chiến được lấy ra khô ráo, an toàn trọn vẹn từ trong lòng chiếc rế nồi cũ kỹ, chuyển tận tay cho ban chỉ huy huyện ủy mà không hề sứt mẻ một chút nào.



