Bài viết

NỖI CHỜ CON

Vĩnh Long27/04/2026Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Vĩnh Thành (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Vĩnh Thành)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chiến tranh đã qua đi và để lại sau lưng nó là sự hoang tàn và mất mát. Sau cuộc chiến có những người trở về lành lặn, có người trở về với những vết thương trên thân thể và cũng có người mãi mãi không trở về. Các anh không về để lại sự đau khổ, tiếc thương và sự chờ đợi của Mẹ, vợ và người thân. Đó cũng chính là nỗi niềm của mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thông.

Mẹ Nguyễn Thị Thông sinh năm 1919 tại ấp Hòa Lộc xã Vĩnh Hòa trong một gia đình bần nông nghèo khổ có hai anh em. Năm 1921, khi Mẹ lên hai tuổi, Mẹ của Mẹ là bà Võ Thị Nhi qua đời. Cha của Mẹ là ông Nguyễn Văn Hai phải một mình “gà trống nuôi con”. Sợ con mình thiếu thốn ông phải đi làm thuê, làm mướn nuôi các con. Những cuộc sống vẫn phải tiếp tục trôi qua. Năm Mẹ 14 tuổi, vì kế sinh nhai cha và anh Mẹ phải bôn ba làm ăn tận Cà Mau, từ đó Mẹ phải đi ở đợ cho địa chủ đến lúc lập gia đình năm 1937. Chồng Mẹ là ông Trần Văn Chon sinh năm 1920 quê ở Giồng Dầu xã Tân Thanh Tây huyện Mỏ Cày lên xã Hưng Khánh Trung mướn đất làm ruộng.

Mẹ sinh được 11 người con, 6 trai và 5 gái. Con đông, nhà nghèo, đất thì thuê mướn của địa chủ, để đủ cái ăn, cái mặc cho gia đình Mẹ phải làm thêm đủ các nghề như đóng đáy, đăng, chài lưới. Năm 1958, chồng Mẹ tham gia công tác mật ở địa phương nên công việc gia đình một mình Mẹ phải gánh vác. Năm 1960, chồng Mẹ bị bọn mật thám chỉ điểm và chúng bắt ông đi tù ở Khám Lá Bến Tre đến năm 1963 mới được thả ra. Tiếp nối truyền thống của gia đình, các con Mẹ lần lượt tham gia kháng chiến. Năm 1960, con trai lớn của Mẹ là Trần Văn Ớn tham gia du kích ở địa phương sau đó là bộ đội huyện Mỏ Cày. Năm 1970, về làm phó Bí thư Chi bộ ấp Phú Long. Năm 1963, người con thứ tư của Mẹ là Trần Văn Diệm tham gia vào bộ đội chủ lực miền Đông. Năm 1964, người con thứ năm của Mẹ là Trần Văn Bổng cũng tham gia vào bộ đội chủ lực miền Đông. Các con gái thứ ba, thứ bảy và thứ tám của Mẹ cũng tham gia làm giao liên của địa phương. Những năm vùng giải phóng được mở rộng, lúc này chồng Mẹ là quân lương xã nên công việc càng thêm bận rộn. Nhà Mẹ ngày nào cũng rộn rã tiếng xay lúa giã gạo của Ban quân lương xã để tiếp tế ra chiến trường. Đây cũng là nơi dừng chân, hội họp, nghỉ ngơi của các đoàn cán bộ huyện. Mặc dù bận rộn nhưng Mẹ lo chu tất trong ngoài.

Năm 1970, giặc bình định lấn chiếm vùng giải phóng, biết gia đình Mẹ là gia đình cách mạng, nên chúng hạch sách đủ điều. Có một lần vì không nghe lệnh dời nhà ra ấp chiến lược bọn giặc đã bắn một quả M79 nhằm ngay nhà Mẹ, bị thương nhưng Mẹ vẫn quyết định bám trụ để tiếp tế lương thực nuôi quân. Sau Hiệp định Pari, bọn chúng càng ráo riết dùng nhiều thủ đoạn nhằm tách rời các gia đình ra khỏi lực lượng cách mạng. Để tránh quân ta không đánh đồn chúng đã bắt các gia đình cách mạng phải ra ngủ gần đồn. Rồi chúng dùng chiêu bài cải huấn, bắt hàng chục gia đình cách mạng xuống quận Đôn Nhơn để tra tấn, cách ly trong đó có gia đình Mẹ. Nhưng với khí tiết của mình, Mẹ vẫn kiên quyết không khai báo. Năm 1974, một lần nữa Mẹ tiễn người con trai út của mình là Trần Văn Hiếm lúc đó mới 15 tuổi vào bộ đội thuộc Tiểu đoàn 516 của tỉnh. Mỗi lần nghe tiếng súng, tiếng bom nổ gần xa là Mẹ lại lo lắng và nơm nớp lo cho chồng, con Mẹ nơi chiến trường và luôn cầu nguyện cho họ được bình an.

Rồi ngày thống nhất cũng đến, đất nước được giải phóng, nhà Mẹ có năm người trực tiếp tham gia chiến đấu ở chiến trường thì giờ ba người đã trở về là chồng Mẹ, con trai lớn của Mẹ và con trai út của Mẹ nhưng còn hai người nữa vẫn chưa về. Thời gian này Mẹ đứng ngồi không yên. Hàng ngày, Mẹ cứ trông ra ngõ, đôi mắt nhìn xa xăm như trông chờ điều gì đó, có ai hiểu nỗi lòng Mẹ lúc này. Mãi đến hai tháng sau, Mẹ mới nhận được hai giấy báo tử của hai con của Mẹ, cả hai anh đều hy sinh tại Bà Rịa – Vũng Tàu, niềm hy vọng mong manh của Mẹ giờ đây đã hết.

Đất nước đã được thống nhất, nhân dân được tự do, thành quả đó là sự đóng góp và hy sinh của biết bao gia đình trên khắp đất nước trong đó có gia đình Mẹ. Mẹ có hai người con trai và hai người con rể đã hy sinh trong cuộc chiến này. Đó là những mất mát và đau thương không gì bù đắp được đối với Mẹ. Tuổi già dần đến, Mẹ chỉ có một ao ước duy nhất là tìm được mộ hai người con của mình, để Mẹ được thắp một nén hương cho thỏa lòng mong nhớ vì các anh hy sinh mà cả hai đều không tìm được mộ. Chưa thực hiện được ước mong của mình thì năm 2005 Mẹ qua đời sau một cơn bạo bệnh để lại một ước mơ còn dang dở.

Với những đóng góp đó, ngày 21 tháng 7 năm 2014 Mẹ được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu “Bà Mẹ Việt Nam anh hùng”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
NỖI CHỜ CON | Câu chuyện thời hoa lửa