Bài viết

Nồi cơm Mẹ Đỉnh và câu chuyện về gia đình có 6 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng (1)

Hưng Yên02/01/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tháng 5/2007, đoàn cán bộ sưu tầm của Bảo tàng Quân khu 4 đến thăm gia đình Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Đỉnh. Căn nhà đơn sơ, giản dị, chật chội bởi những tấm Huân, Huy chương, Bằng Tổ quốc ghi công, các loại Bằng khen, Giấy khen là minh chứng cho sự hiện diện của những người con Anh hùng trong một gia đình Anh hùng.

Tiếp chúng tôi là ông Vương Hưng Mầu, 80 tuổi, người con trai duy nhất trong 6 người con của Mẹ Đỉnh may mắn được chứng kiến ngày đất nước thống nhất, non sông thu về một mối. Khi nói về Mẹ, ông bồi hồi, xúc động, hồi tưởng lại những ngày tháng Mẹ tần tảo, chắt chiu, để nuôi anh em ông khôn lớn, rồi cả 6 anh em đều tham gia cách mạng và 5 người đã anh dũng ngã xuống vì độc lập, tự do cho Tổ quốc.Sau khi thắp nén hương thơm trên bàn thờ, ông kể cho chúng tôi nghe về truyền thống cách mạng của gia đình mình. Bố ông tên là Vương Hưng Phán, sinh ra và lớn lên ở vùng đất nghèo thuộc xã Phú Đa, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, nơi được biết đến như cái nôi của phong trào cách mạng trong tỉnh. Ngay từ đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ông là người đứng đầu của dòng họ Vương Hưng, sớm giác ngộ cách mạng, đưa vợ là Trần Thị Đỉnh cùng các con tham gia kháng chiến, cả ông và 6 người con đều là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Gia đình ông trở thành ngọn lửa kháng chiến soi sáng và lan tỏa khắp thôn Phú Đa. Năm 1946, căn nhà của gia đình ông làm trụ sở công an tỉnh, sau đó là nơi làm việc, họp mặt của các đồng chí lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên Huế, rồi trở thành xưởng dệt cung cấp vải cho cán bộ, bộ đội trong tỉnh.Đầu năm 1957, nhiều cơ sở cách mạng của Thừa Thiên Huế bị lộ, Mỹ, ngụy ngày đêm bắt bớ, tra tấn dã man những người theo cách mạng. Gia đình ông bị chúng bao vây, truy bức ráo riết, nhưng cả dòng họ của ông không ai theo giặc, tất cả đã bám trụ chiến đấu, phục vụ chiến đấu. Gia đình ông được xem là cơ sở đầu tiên và cuối cùng an toàn nhất của huyện Phú Vang. Vì vậy, nơi đây được làm nơi đặt điểm hẹn, liên lạc của nhiều cán bộ về hoạt động và chỉ đạo phong trào kháng chiến ở địa phương và địa bàn này cũng là bàn đạp để quân ta tiến công vào thành phố Huế.Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, nhà ông là nơi đặt trạm phẫu thuật phía Nam Thừa Thiên. Trong 3 năm (1968 - 1970), hàng trăm chiến sĩ giải phóng quân và du kích đã được cứu chữa tại đây trước khi về đơn vị chiến đấu hoặc chuyển về tuyến sau.Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, gia đình ba thế hệ đã có nhiều người chiến đấu ngoan cường, anh dũng, bất khuất, lập nên nhiều chiến công vẻ vang, góp phần tô thắm truyền thống đấu tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam, 24 người đã hy sinh, để lại dấu ấn không thể phai mờ trong tâm trí người dân Phú Đa. Với những thành tích và sự hy sinh to lớn đó, Nhà nước đã phong tặng gia tộc ông Vương Hưng Mầu 6 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng và 1 người là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Đỉnh (mẹ của ông Mầu) một lòng trung thành với cách mạng, kiên quyết bám trụ quê hương, động viên con cháu cùng tham gia kháng chiến, mẹ đã nhiều năm nuôi giấu cán bộ hoạt động. Mẹ có chồng và 5 người con đã hy sinh vì sự nghiệp giải phóng của dân tộc. Chồng Mẹ là ông Vương Hưng Phán đã hy sinh năm 1969. Người con cả của Mẹ là ông Vương Hưng Kháng làm Bí thư Đảng uỷ xã Phú Đa, huyện Phú Vang, hy sinh năm 1947. Người con thứ 2 là Vương Hưng Hạc, thương binh mất một chân vẫn âm thầm đi gây dựng cơ sở bí mật, khi bị địch bắt đã chống trả quyết liệt, bị chúng giết hại năm 1968. Người con gái thứ 2 Vương Thị Lành hy sinh năm 1973, người con thứ 5, thứ 6 là Vương Hưng Tích, Vương Hưng Hạc đều hy sinh khi chiến đấu với địch. Ông Mầu kể: “Lúc bấy giờ gia đình tôi rất nghèo, khoai sắn cũng không đủ ăn, nói chi cơm gạo, nhưng mẹ tôi thường nhắc các con phải nhường cơm cho bộ đội. Mẹ yêu quý, chăm sóc các anh chị bộ đội như con ruột của mình, sẵn sàng nhường hạt gạo cuối cùng để nấu cháo cho thương binh”.

Mẹ Việt Nam Anh hùng Vương Thị Lành (người con gái thứ 2 của mẹ Đỉnh) là một Đảng viên kiên cường, hy sinh năm 1973. Năm 1955, hoạt động trong vùng kiểm soát của địch, bà cùng một số đồng chí bí mật thành lập tổ Đảng để hướng dẫn quần chúng đấu tranh chiêu bài “tố cộng”, “diệt cộng” của ngụy; che giấu, bảo vệ cơ sở kháng chiến. Nhà bà Lành là nơi có hầm bí mật đầu tiên giấu cán bộ về phát triển cơ sở kháng chiến ở xã Phú Đa, chuẩn bị cho phong trào đồng khởi ở huyện Phú Vang. Từ đó cơ sở Đảng được nhân rộng khắp vùng. Năm 1967 bà bị địch bắt, sau đó bà bị đày ra Côn Đảo giam cầm, tra tấn cho đến chết. Hai người con của bà tham gia hoạt động bí mật nội thành dưới vỏ bọc là thợ may và đã hy sinh trong chiến đấu. Con gái là Châu Thị Soa, cán bộ phụ nữ của xã, thay mẹ liên lạc, bảo vệ cán bộ nằm vùng. Phát hiện vai trò quan trọng của chị Soa, địch bắt tra tấn và giết hại. Cả gia đình 5 người của Mẹ Vương Thị Lành đều hy sinh cho kháng chiến.

Bà Vương Thị Phi (em chồng mẹ Đỉnh) là Mẹ Việt Nam Anh hùng có 8 Liệt sĩ (3 người con, 1 cháu rể và 4 cháu ruột). Chiến công và sự hy sinh của những người con, người cháu bà Phi đã làm cho kẻ thù phải khiếp sợ, gây tiếng vang lớn trong đồng bào Phú Đa.

Bà Trần Thị Lùng (con gái bà Vương Thị Phi) là Mẹ Việt Nam Anh hùng có chồng và 2 con hy sinh. Đặc biệt cô con gái của mẹ Lùng là một chiến sĩ rất gan dạ, bất khuất. Trong một trận chống địch càn quét ở xã Phú Lương, huyện Phú Vang, chị đã dũng cảm một mình chống lại quân bộ và trực thăng địch cho đến khi hết đạn. Địch đổ quân vây bắt, chị dùng báng súng chống trả quyết liệt và anh dũng hy sinh.

Mẹ Việt Nam Anh hùng Phan Thị Vũ (con dâu của mẹ Đỉnh) gây dựng cơ sở nuôi giấu cán bộ hoạt động cách mạng, hết lòng vì quê hương, động viên chồng con trong chiến đấu chống giặc. Chồng hy sinh năm trước thì năm sau, 3 người con trai của bà công tác ở Huyện uỷ và Huyện đoàn Phú Vang đã hy sinh trên đường công tác.

Mẹ Việt Nam Anh hùng Phạm Thị Thể (con dâu của mẹ Đỉnh, vợ của ông Mầu) về nhà chồng chưa đầy một năm, thì ông Vương Hưng Mầu, theo tiếng gọi của Tổ quốc gia nhập đoàn quân Nam tiến. Ông chiến đấu và làm nhiệm vụ bảo vệ Trung ương Cục miền Nam, rồi tập kết ra Bắc công tác, đến năm 1968 trở lại miền Nam chiến đấu mới gặp lại bà ở căn cứ Thừa Thiên Huế sau 24 năm xa cách. Xa chồng, theo gương gia đình, bà tham gia hoạt động phụ nữ xã, liên xã. Khi cháu Vương Thị Sen, đứa con gái duy nhất của ông bà tròn 4 tuổi, bà phải ngậm ngùi gạt nước mắt, giao con cho bà nội để rút vào hoạt động bí mật. Hiệp định Giơnevơ được ký kết chưa ráo mực, bọn Mỹ, ngụy đã phá hoại hiệp định, ra sức truy lùng, bắt bớ cán bộ kháng chiến. Bà phải rời địa phương lên miền núi và được giao nhiệm vụ liên lạc, kết nối cán bộ, đảng viên đang phải sơ tán, nhằm xây dựng lại tổ chức. Năm 1957 trong một chuyến công tác về đồng bằng phát triển cơ sở, bà bị địch bắt, giam cầm ở nhà lao Thừa Phủ. Dù bị cực hình tra tấn song bà không chịu khuất phục. Diệm, Nhu bị giết, bà được địch thả ra và phải chuyển về miền núi huyện Phong Điền hoạt động cho đến ngày gặp lại chồng, và tham gia công tác trong lực lượng Công an nhân dân cho đến khi nghỉ hưu. Theo gương gia đình, cháu Vương Thị Sen lớn lên tham gia du kích, sau đó hy sinh tại mặt trận khi vừa tròn 20 tuổi.

Kể đến đây, ông Mầu rớm rớm nước mắt, bà Thể đưa cho ông chiếc khăn, chấm những giọt nước mắt lăn dài trên gò má gầy gò, hằn sâu những nỗi đau, ông nghẹn ngào nói: “Ngày Bắc - Nam sum họp cũng là ngày gia đình tôi có cùng một lúc 24 chiếc khăn tang của 24 Liệt sỹ, chưa kể 4 Mẹ Việt Nam Anh hùng đã hy sinh, sau này được Nhà nước truy tặng”. Trong căn nhà 128B Trần Phú, thành phố Huế, hai vợ chồng ông Mầu sống với người cháu gọi bằng chú thím để đỡ phần trống trải.

Khi biết chúng tôi mong muốn đưa những kỷ vật của Mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Đỉnh về Bảo tàng Quân khu 4 phục vụ công tác giáo dục truyền thống lịch sử, ông Vương Hưng Mầu đã trao tặng chiếc Nồi gang mà Mẹ đã dùng để nấu cơm, nuôi giấu cán bộ cách mạng trong những năm kháng chiến.

Chiếc Nồi gang kỷ vật của Mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Đỉnh hiện được trưng bày trang trọng tại Phòng chuyên đề Mẹ Việt Nam Anh hùng của Bảo tàng Quân khu 4. Hiện vật này cùng câu chuyện về gia đình có 6 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng tạo nên những xúc cảm mạnh, là minh chứng rõ rệt về những hy sinh to lớn của các Bà mẹ trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, góp phần giáo dục truyền thống lịch sử, tình cảm cách mạng cho các thế hệ hôm nay và mai sau./.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn