Nồi cơm Mẹ Đỉnh và câu chuyện về gia đình có 6 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng (1)
Tháng 5/2007, đoàn cán bộ sưu tầm của Bảo tàng Quân khu 4 đến thăm gia đình Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Đỉnh. Căn nhà đơn sơ, giản dị, chật chội bởi những tấm Huân, Huy chương, Bằng Tổ quốc ghi công, các loại Bằng khen, Giấy khen là minh chứng cho sự hiện diện của những người con Anh hùng trong một gia đình Anh hùng.
Mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Đỉnh (mẹ của ông Mầu) một lòng trung thành với cách mạng, kiên quyết bám trụ quê hương, động viên con cháu cùng tham gia kháng chiến, mẹ đã nhiều năm nuôi giấu cán bộ hoạt động. Mẹ có chồng và 5 người con đã hy sinh vì sự nghiệp giải phóng của dân tộc. Chồng Mẹ là ông Vương Hưng Phán đã hy sinh năm 1969. Người con cả của Mẹ là ông Vương Hưng Kháng làm Bí thư Đảng uỷ xã Phú Đa, huyện Phú Vang, hy sinh năm 1947. Người con thứ 2 là Vương Hưng Hạc, thương binh mất một chân vẫn âm thầm đi gây dựng cơ sở bí mật, khi bị địch bắt đã chống trả quyết liệt, bị chúng giết hại năm 1968. Người con gái thứ 2 Vương Thị Lành hy sinh năm 1973, người con thứ 5, thứ 6 là Vương Hưng Tích, Vương Hưng Hạc đều hy sinh khi chiến đấu với địch. Ông Mầu kể: “Lúc bấy giờ gia đình tôi rất nghèo, khoai sắn cũng không đủ ăn, nói chi cơm gạo, nhưng mẹ tôi thường nhắc các con phải nhường cơm cho bộ đội. Mẹ yêu quý, chăm sóc các anh chị bộ đội như con ruột của mình, sẵn sàng nhường hạt gạo cuối cùng để nấu cháo cho thương binh”.
Mẹ Việt Nam Anh hùng Vương Thị Lành (người con gái thứ 2 của mẹ Đỉnh) là một Đảng viên kiên cường, hy sinh năm 1973. Năm 1955, hoạt động trong vùng kiểm soát của địch, bà cùng một số đồng chí bí mật thành lập tổ Đảng để hướng dẫn quần chúng đấu tranh chiêu bài “tố cộng”, “diệt cộng” của ngụy; che giấu, bảo vệ cơ sở kháng chiến. Nhà bà Lành là nơi có hầm bí mật đầu tiên giấu cán bộ về phát triển cơ sở kháng chiến ở xã Phú Đa, chuẩn bị cho phong trào đồng khởi ở huyện Phú Vang. Từ đó cơ sở Đảng được nhân rộng khắp vùng. Năm 1967 bà bị địch bắt, sau đó bà bị đày ra Côn Đảo giam cầm, tra tấn cho đến chết. Hai người con của bà tham gia hoạt động bí mật nội thành dưới vỏ bọc là thợ may và đã hy sinh trong chiến đấu. Con gái là Châu Thị Soa, cán bộ phụ nữ của xã, thay mẹ liên lạc, bảo vệ cán bộ nằm vùng. Phát hiện vai trò quan trọng của chị Soa, địch bắt tra tấn và giết hại. Cả gia đình 5 người của Mẹ Vương Thị Lành đều hy sinh cho kháng chiến.
Bà Vương Thị Phi (em chồng mẹ Đỉnh) là Mẹ Việt Nam Anh hùng có 8 Liệt sĩ (3 người con, 1 cháu rể và 4 cháu ruột). Chiến công và sự hy sinh của những người con, người cháu bà Phi đã làm cho kẻ thù phải khiếp sợ, gây tiếng vang lớn trong đồng bào Phú Đa.
Bà Trần Thị Lùng (con gái bà Vương Thị Phi) là Mẹ Việt Nam Anh hùng có chồng và 2 con hy sinh. Đặc biệt cô con gái của mẹ Lùng là một chiến sĩ rất gan dạ, bất khuất. Trong một trận chống địch càn quét ở xã Phú Lương, huyện Phú Vang, chị đã dũng cảm một mình chống lại quân bộ và trực thăng địch cho đến khi hết đạn. Địch đổ quân vây bắt, chị dùng báng súng chống trả quyết liệt và anh dũng hy sinh.
Mẹ Việt Nam Anh hùng Phan Thị Vũ (con dâu của mẹ Đỉnh) gây dựng cơ sở nuôi giấu cán bộ hoạt động cách mạng, hết lòng vì quê hương, động viên chồng con trong chiến đấu chống giặc. Chồng hy sinh năm trước thì năm sau, 3 người con trai của bà công tác ở Huyện uỷ và Huyện đoàn Phú Vang đã hy sinh trên đường công tác.
Mẹ Việt Nam Anh hùng Phạm Thị Thể (con dâu của mẹ Đỉnh, vợ của ông Mầu) về nhà chồng chưa đầy một năm, thì ông Vương Hưng Mầu, theo tiếng gọi của Tổ quốc gia nhập đoàn quân Nam tiến. Ông chiến đấu và làm nhiệm vụ bảo vệ Trung ương Cục miền Nam, rồi tập kết ra Bắc công tác, đến năm 1968 trở lại miền Nam chiến đấu mới gặp lại bà ở căn cứ Thừa Thiên Huế sau 24 năm xa cách. Xa chồng, theo gương gia đình, bà tham gia hoạt động phụ nữ xã, liên xã. Khi cháu Vương Thị Sen, đứa con gái duy nhất của ông bà tròn 4 tuổi, bà phải ngậm ngùi gạt nước mắt, giao con cho bà nội để rút vào hoạt động bí mật. Hiệp định Giơnevơ được ký kết chưa ráo mực, bọn Mỹ, ngụy đã phá hoại hiệp định, ra sức truy lùng, bắt bớ cán bộ kháng chiến. Bà phải rời địa phương lên miền núi và được giao nhiệm vụ liên lạc, kết nối cán bộ, đảng viên đang phải sơ tán, nhằm xây dựng lại tổ chức. Năm 1957 trong một chuyến công tác về đồng bằng phát triển cơ sở, bà bị địch bắt, giam cầm ở nhà lao Thừa Phủ. Dù bị cực hình tra tấn song bà không chịu khuất phục. Diệm, Nhu bị giết, bà được địch thả ra và phải chuyển về miền núi huyện Phong Điền hoạt động cho đến ngày gặp lại chồng, và tham gia công tác trong lực lượng Công an nhân dân cho đến khi nghỉ hưu. Theo gương gia đình, cháu Vương Thị Sen lớn lên tham gia du kích, sau đó hy sinh tại mặt trận khi vừa tròn 20 tuổi.
Kể đến đây, ông Mầu rớm rớm nước mắt, bà Thể đưa cho ông chiếc khăn, chấm những giọt nước mắt lăn dài trên gò má gầy gò, hằn sâu những nỗi đau, ông nghẹn ngào nói: “Ngày Bắc - Nam sum họp cũng là ngày gia đình tôi có cùng một lúc 24 chiếc khăn tang của 24 Liệt sỹ, chưa kể 4 Mẹ Việt Nam Anh hùng đã hy sinh, sau này được Nhà nước truy tặng”. Trong căn nhà 128B Trần Phú, thành phố Huế, hai vợ chồng ông Mầu sống với người cháu gọi bằng chú thím để đỡ phần trống trải.
Khi biết chúng tôi mong muốn đưa những kỷ vật của Mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Đỉnh về Bảo tàng Quân khu 4 phục vụ công tác giáo dục truyền thống lịch sử, ông Vương Hưng Mầu đã trao tặng chiếc Nồi gang mà Mẹ đã dùng để nấu cơm, nuôi giấu cán bộ cách mạng trong những năm kháng chiến.
Chiếc Nồi gang kỷ vật của Mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Đỉnh hiện được trưng bày trang trọng tại Phòng chuyên đề Mẹ Việt Nam Anh hùng của Bảo tàng Quân khu 4. Hiện vật này cùng câu chuyện về gia đình có 6 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng tạo nên những xúc cảm mạnh, là minh chứng rõ rệt về những hy sinh to lớn của các Bà mẹ trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, góp phần giáo dục truyền thống lịch sử, tình cảm cách mạng cho các thế hệ hôm nay và mai sau./.



