NỖI ĐAU CỦA MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG PHẠM THỊ HƯNG
Mẹ Phạm Thị Hưng (1911-1997), quê ở ấp An Ngãi, xã An Thạnh, là người con thứ bảy trong gia đình có đến mười anh chị em. Xuất thân trong một gia đình bần nông, tuổi thơ của mẹ vô cùng cơ cực, phải mò cua, bắt cá, hái rau, trồng lúa... phụ giúp cuộc sống gia đình, lại phải luôn sống trong cảnh nươm nướp lo sợ sự hà khắc, bắt bớ của bọn thực dân phong kiến...
Mười chín tuổi, mẹ kết duyên cùng ông Lê Văn Tốt (Ba Nhân), sinh năm 1906, quê ở ấp Thạnh Trị Hạ, thị trấn Thạnh Phú. Chồng của mẹ tham gia cách mạng năm 1945, làm cán bộ an ninh xã An Thạnh, sau bị địch bắt tù đày nhiều năm (1954 1958), ông mất năm 1983.
Mẹ sinh được 7 người con (5 trai, 2 gái), dù hoàn cảnh thời chiến tranh rất gian khổ, thiếu thốn, cơ cực đủ điều, nhưng mẹ rất yêu quý các con của mình, luôn quan tâm dạy dỗ nhất là về lòng yêu nước, tinh thần dũng cảm vượt qua khó khăn, nguy hiểm trước kẻ thù. Chính vì vậy mà tất cả 7 người con của mẹ khi lớn lên đều noi gương mẹ, cha tham gia cách mạng.
Những năm 1954-1958, là quãng thời gian mà mẹ cực khổ nhất, vì chồng bị địch bắt tù đày, mẹ vừa tham gia công tác vừa phải làm ruộng để đảm bảo cho các con không bị đói khổ. Có những đêm dưới hầm trảng xê, mẹ không sao chợp mắt được, không phải vì tiếng “gào thét” của bom đạn ngoài kia, mà là vì thương nhớ, lo lắng cho chồng, lo cho đàn con thơ dạy không biết có còn được gặp mặt cha... Gian khổ hơn, có những lần địch cho quân ruồng bố, bắt bớ, mẹ phải dẫn cùng lúc 05 người con đến Rạch Đáy – An Nhơn để trốn chạy khỏi họng súng của quân thù.
Nguy hiểm là thế, nhưng không bi thương, không sợ sệt. Lòng mẹ lúc nào cũng đầy khí tiết, mong muốn góp công, góp sức cho cách mạng chiến đấu với kẻ thù. Và hơn hết, là tiếp tục thực hiện lý tưởng cao đẹp mà mẹ đã hứa với chồng những ngày đầu đến với
Cách mạng. Thế là ngày đêm, số lần mẹ vắng nhà mỗi lúc nhiều hơn, vừa giữ mối liên lạc với cách mạng, vừa tích cực vận động, quyền góp gạo cung cấp cho bộ đội. Đang lúc tỉnh thần phấn chấn, thi tháng 10/1960, mẹ nhận được tin con trai thứ ba là Lê Văn Ba bị địch giết hại tại xã An Thạnh. Mấy đêm liền mẹ không sao chợp mắt được, vừa căm giận kẻ thù, vừa nhớ thương con, nước mắt cứ tuôn trào, lòng mẹ lại cảng đau đớn hơn mỗi khi thấy hai đứa cháu thơ dại mà anh Ba chưa kịp dạy dỗ nên người...
Dẫu biết rằng chiến tranh là thế, sẽ có mất mát, đau thương, nhưng những đau thương mà mẹ phải gánh chịu dường như chỉ mới bắt đầu... Một chiều cuối tháng 7/1965, anh Lê Văn Mum con trai thứ sáu mang giấy báo tử của anh tư mình là Lê Văn Dung hy sinh ngày 7/7/1965 tại sông Láng Sách – Cần Thơ về cho mẹ. Dẫu biết rằng sự thật sẽ khiến mẹ đau lòng, nhưng anh Mum không thể giấu mẹ và gia đình... Như linh tỉnh có chuyện không hay, mẹ găn hỏi:
Mầy về đây còn anh tư mầy đâu?...”
.”... Anh con bị địch giết chết ở Cần Thơ rồi... Má vui lên đi cho con ở lại vài hôm, chứ không là con về đơn vị liền...” – anh Lê Văn Mum nói.
Như không tin vào tai mình, “thằng tư” đã chết?! Lòng mẹ như ai cắt đi từng khúc ruột của mình, quằn nặng những đau thương. Nhìn chiếc áo len bao cây viết và chiếc đèn pin – những vật dụng còn sót lại của anh Dung mà mắt mẹ cứ nhòe đi. Hình ảnh vui vẻ, hứa quyết tâm chiến đấu với kẻ thù trước lúc lên đường của đứa con ngày nào như vẫn còn đâu đây, thế mà giờ này mãi mãi đó chỉ còn là những ký ức...
Nỗi đau mất “thằng tư” chưa nguôi, thì ngay trước tết Đoan ngọ năm 1967, mẹ lại nhận tiếp hung tin đứa con thứ bảy Lê Văn Khó đã hy sinh trong trận công kích đồn Tân Thanh (Giồng Trôm). Không kìm nén được cảm xúc của mình, ngay trong đêm, mẹ lặng lẽ lên đường cố mong có thể nhìn thấy mặt con lần sau cùng. Sau những ngày trốn tránh vất vả trước sự kiểm soát gắt gao của địch, đến đơn vị con, mẹ lại nhận được tin thi thể của con được đơn vị an táng tại nghĩa trang xã Phong Mỹ cùng với các đồng đội khác lại tiếp tục bị B52 của Mỹ ném bom phá hủy toàn bộ... Cái “chết lần thứ hai” của“thằng bảy” đã khiến tim mẹ như muốn ngừng đập, mặc cho nỗi đau vây lây, cô giữ bình tĩnh không khóc, mà sao nước mắt cứ từng giọt tuôn trào, phải rất khó khăn mẹ mới thật sự gượng lại được...
Bàng hoàng trước những nỗi đau liên tiếp chưa hết, thì một năm sau, tin đứa con thứ sáu Lê Văn Mum hy sinh ngày 20/7/1968 tại quận 6, Sài Gòn không tìm được xác như xát thêm muối vào nổi đau của lòng mẹ. Ngày đem giấy báo tử của “thằng tư” về, khi ra đi, anh Mum còn hứa với mẹ: Lần này con đi khi nào xong nhiệm vụ với đất nước con sẽ về, mẹ cố gắng giữ gìn sức khỏe... Thế mà lần gặp gỡ ấy chính là lần cuối cùng mẹ được nhìn thấy anh Mum. Vậy là nghĩa vụ với Tổ quốc, với non sông anh đã hoàn thành, nhưng lời hứa với mẹ anh không thể thực hiện được...
Chiến tranh kết thúc đã lấy đi của mẹ rất nhiều thứ, nhưng để có được sự tự do độc lập cho Tổ quốc mẹ chẳng hề tiếc thứ gì. Cả cuộc đời mẹ là những chuỗi ngày dâng hiến cho đất nước và khi đất nước cần, mẹ sẵn sàng động viên con mình ra trận, dù biết rằng ranh giới giữa sự sống và cái chết trong chiến tranh là rất mong manh. Chính vì đã có sẵn tâm thế chuẩn bị nên 4 lần hay tin con tử trận, mẹ đều đứng vững. Dù mang nặng vết thương lòng, nhưng bản thân mẹ rất tự hào về những người con anh dũng của mẹ đã kiên cường chiến đấu vì tự do, độc lập, quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh.
Với những cống hiến của bản thân và gia đình cho sự nghiệp cách mạng, Mẹ Phạm Thị Hưng được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng: vào ngày 17/12/1994./



