NỖI ĐAU THẦM LẶNG
Có sự hy sinh nào bằng sự hy sinh của cao cả người mẹ, có sự đau đớn nào bằng sự đau đớn của người Mẹ khi tiễn những đứa con ra đi rồi không bao giờ gặp lại. Những người con ấy đã an nghỉ nơi lòng đất mẹ để cho đất nước Việt Nam mãi được hồi sinh. Hình ảnh Bà Mẹ Việt Nam anh hùng Lê Thị Út là như thế.
Mẹ Lê Thị Út, sinh năm Mậu Ngọ (1918) tại xã Long Thới, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. Khoảng vào tuổi mười tám, Mẹ theo chồng về sinh sống tại ấp Bình Thanh, xã Hòa Nghĩa. Chồng Mẹ là ông Nguyễn Văn Mậu sinh năm 1914. Hai ông bà làm ruộng sinh sống và cùng sinh được tám người con, năm trai, ba gái.
Người con trai thứ ba của Mẹ là Nguyễn Văn Khánh (tên thường gọi là Khánh), sinh năm 1941. Năm 1968, anh tình nguyện tham gia bộ đội tỉnh Bến Tre thuộc Tiểu đoàn 516.
Anh Nguyễn Văn Luân, sinh năm 1944 là con trai thứ năm của Mẹ. Anh tham gia cách mạng lúc 19 tuổi (năm 1963), là bộ đội địa phương quân huyện Chợ Lách. Ngày 16 tháng 10 năm 1966, dưới sự chỉ huy của đồng chí Ngô Văn Cẩn (Sáu Quyền), anh cùng đồng đội chặn đánh trận càn của địch tại ấp Bình Thanh, xã Hòa Nghĩa. Trong trận này, quân ta đã tiêu diệt 05 tên và bắt sống 23 tên thuộc trung đội dân vệ xã Hòa Nghĩa. Sau trận đánh đó, anh chuyển công tác về tỉnh, với chức vụ là Trung đội phó Bộ đội địa phương quân tỉnh Bến Tre.
Năm 1968, hai anh em cùng tham gia trận đánh suốt ba ngày đêm trên địa bàn 3 xã: Phú Túc, Tường Đa, Tam Phước của huyện Châu Thành. Ngày 07 tháng 5 năm 1968, trong lúc trận chiến diễn ra ác liệt, anh Nguyễn Văn Khánh bị trúng đạn hy sinh tại trận địa. Thấy anh mình đã bị trúng đạn, anh Luân thì chạy đến ứng cứu nhưng cũng bị đạn bắn bị thương ở bụng, được băng bó, cứu chữa. Còn thân xác anh Khánh được đồng đội an táng tại Nghĩa trang Hữu Định (Châu Thành).
Sau khi anh Khánh hy sinh, anh Luân viết thư báo hung tin về gia đình và hứa sẽ quyết tâm tiêu diệt kẻ thù để trả thù cho anh.
Ngày 29 tháng 4 năm 1969, anh chỉ huy lực lượng trong trận đối đầu với địch tại xã Hữu Định. Trong trận này, anh đã bị trúng đạn và anh dũng hy sinh. Anh được đồng đội an táng tại Nghĩa trang Hữu Định - nơi mà thân xác của người anh đã gửi lại đây trong một năm trước. Nhưng do bom đạn chiến tranh kéo dài triền miên nên bị vùi lấp mất dấu tích. Sau ngày giải phóng, gia đình đã truy tìm nhưng không được hài cốt của hai anh.
Trong hai năm liền thì Mẹ liên tiếp nhận được hai hung tin của hai người con trai đã vĩnh viễn ra đi vì sự bình yên của Tổ quốc, lòng Mẹ cũng đau xót khôn lường. Thời gian đó, lòng Mẹ càng đau khổ, càng thương nhớ con thì lòng căm thù giặc thêm sâu nặng. Mẹ thường mang gạo và thức ăn đến thăm hỏi các anh bộ đội địa phương ở xã Hưng Khánh Trung, động viên các anh hãy quyết tâm chiến đấu để rửa thù nhà.
Thế rồi sự hy sinh của các anh cũng được đền đáp khi quê hương đã sạch bóng quân thù, đất nước được thanh bình. Nỗi niềm đau khổ của Mẹ cũng dần vơi đi. Mẹ được chứng kiến cảnh quê hương ngày thêm đổi mới, được sống cùng với con cháu trong quãng đời còn lại. Nhưng lòng Mẹ vẫn còn day dứt khi đến cuối cuộc đời là vẫn chưa tìm được hài cốt của hai người con trai của Mẹ - hai vị anh hùng liệt sĩ.
Năm 2007, sau một thời gian lâm trọng bệnh, Mẹ đã qua đời, hưởng thọ 89 tuổi. Đến đầu năm 2015, Mẹ được Nhà nước truy tặng danh hiệu “Bà Mẹ Việt Nam anh hùng”. Danh hiệu cao quý đó đã an ủi phần nào cho sự thanh thản vong linh của Mẹ và các vị anh hùng liệt sĩ.



