Nỗi đau và nghị lực của người phụ nữ Bến Lức - HV
Đối với Mẹ Phạm Thị Uyển, chiến tranh không chỉ là súng đạn mà là những tờ giấy báo tử xé lòng. Ngày 15/4/1953, chồng mẹ - ông Huỳnh Văn Mừng, Trung đội phó Huyện đội Bến Lức hy sinh. Nỗi đau chưa kịp nguôi ngoai thì ngày 5/9/1969, người con trai cả là Trung sĩ, y tá Huỳnh Văn Hai lại ngã xuống tại chiến trường Ba Thu, Campuchia.
Nỗi đau và nghị lực của người phụ nữ Bến Lức
Đối với Mẹ Phạm Thị Uyển, chiến tranh không chỉ là súng đạn mà là những tờ giấy báo tử xé lòng. Ngày 15/4/1953, chồng mẹ - ông Huỳnh Văn Mừng, Trung đội phó Huyện đội Bến Lức hy sinh. Nỗi đau chưa kịp nguôi ngoai thì ngày 5/9/1969, người con trai cả là Trung sĩ, y tá Huỳnh Văn Hai lại ngã xuống tại chiến trường Ba Thu, Campuchia. Hai lần mất đi những người thân yêu nhất, Mẹ vẫn không gục ngã. Từ năm 1954 đến 1975, Mẹ vừa hoạt động liên lạc, vừa làm công tác binh vận cho Huyện ủy Bến Lức. Ngay cả khi bị giặc bắt giam từ tháng 10/1966 đến tháng 1/1967, Mẹ vẫn tuyệt đối giữ bí mật, bảo vệ cơ sở cách mạng cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.
Sức chịu đựng của người phụ nữ Việt Nam, mà Mẹ Uyển là đại diện tiêu biểu, dường như là vô hạn. Hai lần nhận tin dữ là hai lần trái tim người mẹ bị xé đôi, nhưng Mẹ đã biến đau thương thành hành động. Chi tiết con trai Mẹ - anh Huỳnh Văn Hai - hy sinh tại Campuchia và đến nay vẫn chưa tìm thấy hài cốt là một nốt lặng đầy đau xót. Nó khiến chúng ta hiểu rằng sự hy sinh của các Mẹ vẫn còn kéo dài đến tận ngày hôm nay qua những nỗi day dứt khôn nguôi. Nghị lực của Mẹ trong nhà tù giặc là minh chứng cho việc lòng dân chính là pháo đài vững chắc nhất mà không một lực lượng tàn bạo nào có thể công phá.


