NỐI DÂY CHO DIỀU
Cụ Luốc che ngang chiếc quạt nan trên đầu, hướng chúng tôi vào mấy khu vườn liên tiếp. Nắng xiên vồng khoai buổi chiều nhuốm vàng thêm những quả cam, những buồng chuối. Tay chỉ, miệng nhắc, cụ nói rành rọt:
- Các vạt nương của ông Én, ông Thờng, bà Đoái, bà Đích xưa nằm trong một khu đất chung gọi là vườn Bật. Nó rộng đến sáu, bảy sào. Xung quanh chỉ có một ít cây duối cằn cằn, mấy cây ổi mồ côi và mấy khóm tre cụt ngọn. Vì là đất làm màu nên hễ cây quanh bờ cao lên là người ta phải cắt ngang cho thoáng. Ở đây, mùa tháng năm thì trồng khoai gieo mạ, mùa tháng mười thì trỉa lúa. Vào dịp nắng, trong lúc đất chưa gieo vãi, chúng tôi kéo nhau ra đấy thả diều.
Con diều của chúng tôi khi tung lên nó cứ quay mòng mòng rồi rớt. Chúng tôi chữa mãi chẳng được. Nhiều cậu bàn phá đi mà làm con khác. Nhưng cậu Cung bảo: “Khoan đã”. Một số không chờ được lâu nên ngại, đã bỏ đi. Cậu Cung cứ tung diều lên rồi lại sửa. Hết bớt đầu, thêm đuôi, cậu lại gia cánh phải, giảm cánh trái. Mồ hôi đã ướt cả lưng áo, cậu vẫn kiên trì chữa. Số chịu đứng lại chờ như chúng tôi thì đã lui vào bóng râm, sốt ruột.
Số bỏ về nhà, có cậu lại tò mò, muốn ra nhìn xem sao, trên tay cầm củ khoai luộc. Anh ta vừa lơ đễnh bước vừa bẻ khoai bỏ vào miệng nhưng rồi bỗng đứng sững lại. Con diều chính anh ta bảo phá đi bây giờ lại no gió bay cao. Anh ta cứ đứng nheo mắt nhìn lên cười.
Để diều bay cao hơn, chúng tôi rủ nhau đi tìm thêm dây. Cậu Cung hỏi: “Kiếm dây ở đâu?”. Tôi chỉ sang khu vườn ông Én. Cậu cười bảo: “Khó khăn đó”. Vì diều chúng tôi mà rớt là đâm cổ xuống khu vườn ấy. Ông chủ vườn đã đuổi chúng tôi mấy lần rồi. Nay lại đến lấy dây ở đó, nếu biết ông sẽ đuổi tận nhà.
Kể thì, một nắm dây loại ấy cũng chẳng là bao. Nó là loại cành tra1, cắt lớp này nó ra lớp khác. Chúng tôi chỉ lấy phần vỏ còn phần củi bên trong cứ trả vào bờ. Nhưng đó là cách nghĩ đơn giản của chúng tôi hồi ấy.
Nhìn thấy chúng tôi vác mỗi anh một con dao to tướng, cậu Cung lắc đầu:
- Phải dùng liềm mà ngoặc chứ vác dao chặt ầm
___________
1. Già.
lên thì có khác gì mách: “Ông chủ vườn ơi, chúng tôi đến chặt cây của ngài đây!”.
Chúng tôi nghe theo cậu nên đợt lấy dây ấy đã trót lọt.
Khi trở lại chắp dây diều với chúng tôi, cậu nói:
- Thật thà hơn cha quỷ quái. Lần sau cứ vào mà xin. Các ông sợ thì mình sẽ vào. Tiếc gì mà người ta chẳng cho. Cốt làm sao đừng để cho họ bực mình.
Rời khu vườn Bật thuở nọ, tôi cứ tưởng như mình phải tạm rời con diều giấy đang bay bổng do tay cậu Cung làm ra.
Cụ Luốc lại dẫn tôi đến trước một dãy ao nối tiếp rồi chỉ vào những ao nhỏ hơn mà giải thích:
- Đây là người ta mới đào thêm.
Hướng vào ao lớn nhất, cụ bảo:
- Trước chỉ có cái này, gọi là ao Tùa, vì hồi đầu do ông Tùa đào.
Cụ đứng trên bờ nhìn sang phải, sang trái rồi xích tới, xích lui. Chân giẫm giẫm xuống đất, cụ nói: “Tôi hay ngồi nơi đây” và bước sang độ năm thước: “Cậu Cung thường ngồi câu chỗ ấy”. Cụ chỉ ra xung quanh: “Hồi đó, ở đây cây cối um tùm, bờ ao dốc, tìm mãi mới được vài chỗ thoáng”.
Chúng tôi cùng im lặng một lúc. Đôi mắt cụ cứ nhấp nháy mãi. Từ sôi nổi, giọng cụ trở lại trầm trầm:
- Có lần cá ăn mồi, tôi giật mạnh. Câu của tôi không được cá mà lại ngoắc vào vành tai cậu Cung.
Tôi lo sợ, phàn nàn: “Thế mà cậu cứ bảo mài lưỡi câu cho sắc thêm nữa!”. Cậu cười và động viên tôi: “Mài lưỡi câu để câu cá chứ ai lại câu lỗ tai”. Trước sự đùa vui cởi mở của cậu, tôi bớt lo và đề nghị: “Chiều, vào lớp học, cậu ngồi tránh cái chỗ đau này đi kẻo thầy thấy”. Cậu đã kịp ngắt mấy ngọn lá niệt, loại cây cầm máu vò nát chấm vào chỗ đau và nói: “Cứ để tự nhiên thế, còn cứ thu thu, giấu giấu là người ta nhận ra ngay”.
Tuy tuổi đã cao mà cụ Luốc leo núi vẫn còn khỏe. Lên đến gần đỉnh Rú Chung, cụ nói:
- Đường đi lối lại trên này thì từ nhỏ bọn tôi đã thuộc lòng như thuộc gan bàn tay.
Nửa đồi nửa núi, Rú Chung có một vẻ đẹp riêng. Sườn núi thoai thoải. Phía trên có nhiều nền đất rộng như sân đá bóng. Những hàng thông trồng sau ngày Bác về thăm nay đã như những ngọn tháp nhỏ xanh màu mạ non, lay động rì rào. Quây quần dưới chân núi là các cánh đồng: Hoàng Trù, Ngọc Đình, Vân Hội, Tính Lý ... Sau màu xanh của ruộng là màu tre, cau, bạch đàn, xà cừ, khuynh diệp. Cảnh trí nơi đây như cũng đang lắng nghe những đoạn hồi ức xúc động:
- Rú này xưa cũng rậm, nhiều cây to. Chăn bò, cắt cỏ, kiếm củi, hái rau, chúng tôi đều lên đây. - Cụ Luốc dẫn tôi đi khắp một mái núi mà nói như vậy. - Cậu Cung không có bò. Cậu thường theo chúng tôi lên đây hái củi.
Cứ mỗi chiều sau khi đã làm đủ phần việc của mình, chúng tôi cùng tụ họp lại đây, nô đùa thỏa thích. Một tiếng hú vang lên rung chuyển, rạo rực, bọn trẻ từ các góc núi đạp ngọn cỏ, rẽ cành cây bước lại. Những trận chơi bắt đầu. Cậu Cung mới về nhưng mau quen biết.
Trò chơi nhộn nhất của chúng tôi là kéo co. Buổi đầu đối địch với phe Ngọc Đình - Hoàng Trù chúng tôi là phe Tính Lý - Vân Hội. Bên họ nhiều người khỏe và chơi hiểm. Sau vài trận đầu, cậu Cung biết ý bèn ra hiệu, cốt hướng đối phương ngảnh lưng về một vùng đất trũng. Cậu ghé vào tai tôi: “Họ dùng sức, ta dùng mẹo”. Nụ cười trên môi cậu giấu một chút tinh nghịch, kín đáo.
Cụ Luốc chỉ vào một chỗ trũng phủ dày dặn những cỏ mà nói thêm:
- Phải rồi, mắc mẹo của tụi tôi, bên họ ngả xỉa tiền xuống một cái hố như thế này. Thôi thì bóp đầu gối, xoa cùi tay, cậu nào cũng nửa khóc nửa cười. Chúng tôi cùng ôm bụng, cố nhịn. Cậu Cung vội chạy sang thăm hỏi, xoa bóp cho những bạn bị ngã và phàn nàn, vẫn giấu vẻ tinh nghịch: “Khi đã biết chắc là thắng thì các ông kéo vừa vừa có hơn không? Ngã đau thế này là vì các ông kéo hăng quá, định bắt hết bọn tôi làm tù binh mà”. Các cậu bên kia tuy còn nhăn nhó nhưng cũng phải nói chữa thẹn: “Không, không, không việc gì!”.
Lại bước vào trận chơi mới, cậu Cung bàn: “Thôi bây giờ ta chia đều quân cho nhau, có thế chơi mới vui”. Phía bên kia tán thành và liền cử cậu Cung cầm trịch1. Cậu nói: “Được, ta thay nhau cùng làm”. Đôi bên chơi vẫn hăng, vẫn đấu trí nhưng tất cả đều hồ hởi, thoải mái. Tôi nhớ cứ chiều chiều các bạn lại hỏi: “Cung đâu rồi?”, “Cung có đến không?”. Cụ Luốc đã ngồi lên trên một phiến đá lì nhẵn. Tiếng cụ hòa trong gió núi.
- Cũng có lúc chúng tôi lên rú vào buổi sáng. Mà lên rú là chúng tôi tìm nhau ở đây. Vẫn những tiếng hú nôn nao chờ đợi. Cũng có khi chỉ có năm ba bạn trẻ nhưng thường vẫn có cậu Cung.
Cụ Luốc đang ngồi và chẳng biết tự lúc nào, tôi đã vòng tay ôm ngang đầu gối cụ như ngồi cạnh ông ngoại hồi nhỏ. Bỗng cụ rướn thẳng người che tay lên trán, dõi nhìn về phía xa xa. Tay cụ chỉ đến những ngọn núi, những thung lũng, những đồi cây mà con người đã khai phá. Nơi đó còn in những kỳ tích chống ngoại xâm. Tôi hiểu thêm, Nghệ - Tĩnh là đất “trấn địa” và “thắng địa” của bao đời.
Sau vài giây im lặng, vẻ luyến tiếc hiện qua những nếp nhăn trên vầng trán trải nhiều vất vả, cụ nhớ lại:
- Có lẽ vì hồi đó mắt còn sáng nên chúng tôi nhìn rõ được cả những đường nét mấp mô. Đó là ụ ___________
1. Cũng là “cầm càng” tiếng Nghệ - Tĩnh, chỉ người chỉ huy một cuộc vui.
cột cờ, là vách thành cũ của các căn cứ, sơn trại của tổ tiên ta.
Với sự chỉ dẫn ấy, chúng tôi hình dung được một bức địa đồ chiến trận được vẽ nối tiếp. Riêng trên mảnh đất Rú Chung của vùng Hoàng Trù hiền hậu này, từ khởi nghĩa Cần Vương Vương Thúc Mậu1 đến trận kéo co của lớp trẻ vào những năm đầu thế kỷ có những nét nào giống nhau về sự chung sức, chung lòng?!
Từ giã nền đất kéo co xưa, chúng tôi trở lại bước giữa những hàng cây. Gió chiều rì rào trong những chỏm thông non. Xuống đến chân núi, cụ Luốc quay lại. Tôi đã nghe trong giọng nói của cụ những hơi thở dồn dập:
- Những cuộc vui quên ngày quên tháng từ thuở tóc còn để trái đào đã gắn bó tuổi thơ của chúng tôi với Rú Chung như vậy đó. Nhưng sau mùa kéo co ấy thì cậu Cung rời làng Chùa mà chuyển về quê nội.
Tôi kính cẩn bắt tay chào, nhưng bỗng cánh tay trái của cụ choàng cả lên vai tôi. Tôi muốn ôm mãi bàn tay chai sạn đã quá nhăn nheo của cụ, bàn tay đã chung nắm dây diều và kéo dây co với cậu Cung thuở ấy.



