NỖI MẤT MÁT ĐAU THƯƠNG CỦA BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG - NGUYỄN THỊ THỨ
Trong những cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại của dân tộc ta sau năm 1945, Quảng Nam “Trung dũng kiên cường, đi đầu diệt Mỹ” là địa phương đứng đầu cả nước với 11.659 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng trên tổng số gần 140.000 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng của cả nước.
Mẹ Nguyễn Thị Thứ (1904-2010) là người mẹ có nhiều con cháu hy sinh nhất trong 2 cuộc kháng chiến trường chinh chống thực dân Pháp (1946-1954), chống đế quốc Mỹ (1954-1975). Mẹ sống ở xóm Rừng, thôn Thanh Quýt 2, xã Điện Thắng Trung, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Mẹ Thứ có 9 con trai, 1 con rể và 2 cháu ngoại là liệt sỹ. Người con gái cả của mẹ là mẹ Lê Thị Thi Trị cũng là Bà mẹ Việt Nam Anh hùng vì có chồng và 2 con gái là liệt sỹ.
Quảng Trị - vùng đất chịu nhiều đau thương nhất với nhiều địa danh mới nhắc tên là người ta sẽ nghĩ ngay đến sự bi thương và anh dũng bởi sự dày đặc các chứng tích lịch sử như sông Bến Hải, cầu Hiền Lương, sông Thạch Hãn, Cửa Việt, Cửa Tùng, Đảo Cồn Cỏ, Địa đạo Vịnh Mốc, Vĩnh Linh, Do Linh, Cồn Tiên, Dốc Miếu, Khe Sanh, Làng Vây, Thành Cổ…Trong số các mẹ Việt Nam anh hùng của miền đất này có gia đình mẹ Lê Thị Hẹ, là một trong những gia đình cách mạng đặc biệt, có nhiều đóng góp và hy sinh cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Cả gia đình mẹ Lê Thị Hẹ có 7 Bà mẹ Việt Nam anh hùng và 17 liệt sỹ. Trong số 17 liệt sỹ có 11 liệt sỹ là con đẻ, con dâu, con rể, cháu nội, cháu ngoại của mẹ Hẹ. Mẹ còn có 1 con gái và con dâu được Nhà nước truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng và 6 liệt sỹ gọi mẹ là cô ruột.
Trong gần 140 ngàn Mẹ Việt Nam Anh hùng của cả nước, có 10 mẹ vừa là Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, đồng thời cũng là Anh hùng LLVTND: Mẹ Văn Thị Thừa (sinh năm 1915, Quảng Nam), mẹ Nguyễn Thị Rành (sinh năm 1900, TP Hồ Chí Minh), mẹ Phạm Thị Ngư ( sinh năm 1912, Bình Thuận), mẹ Võ Thị Nhã (sinh 1921, Quảng Ngãi), mẹ Đỗ Thị Phúc (sinh năm 1906, Nam Định), mẹ Bùi Thị Thêm (sinh năm 1924, Kiên Giang), mẹ Huỳnh Thị Tân (sinh năm 1906, Sóc Trăng), mẹ Đoàn Thị Nghiệp (sinh năm 1925, Tiền Giang), mẹ Mai Thị Út (sinh năm 1913, Tiền Giang) và mẹ Nguyễn Thị Điểm (sinh năm 1941, TP Hồ Chí Minh)
Có 3 chị em ruột đều là Bà mẹ Việt Nam Anh hùng là mẹ Bùi Thị Hải (sinh năm 1908), mẹ Bùi Thị Tư ( sinh năm 1916) và mẹ Bùi Thị Nhỏ (sinh năm 1922) đều ở xã Hàm Chính, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Chiến tranh vệ quốc trường kỳ và ác liệt, đã có nhiều thế hệ người lính Quân đội Nhân dân Việt Nam đã dũng cảm chiến đấu và hy sinh ngoan cường. Rất nhiều người vợ, người mẹ đã nén vào lòng những niềm riêng, gạt lệ đưa tiễn chồng, con, cháu ra chiến trường mà không hẹn ngày trở về.
Nỗi đau còn lại là mòn mỏi những người mẹ, người vợ.
Trên thế giới này, có lẽ chẳng có quốc gia nào có danh xưng “Mẹ Việt Nam Anh hùng” và cũng chẳng có dân tộc nào mà việc chăm lo, phụng dưỡng những người mẹ anh hùng đã là một chính sách của Nhà nước bằng các Pháp lệnh, Nghị định.
Có lẽ, trong nhiều nỗi đau của những người mẹ Việt Nam Anh hùng thì mẹ Thứ là một người phụ nữ gần như đã vượt mọi giới hạn, trên mọi sự chịu đựng tột cùng của nỗi đau. Tháng 11 năm 2024, khi tôi đến thăm viếng phần mộ của mẹ ở Nghĩa trang liệt sỹ Điện Bàn và thăm nhà của mẹ ở xóm Rừng, thôn Thanh Quýt 2, thắp hương cho 9 người con của mẹ, chuyện trò với tôi, anh Lê Tự Hiệp (sinh năm 1971), cháu nội của mẹ Thứ đã kể, khi mẹ còn sống, mỗi khi tới kỳ giỗ chạp của các con hoặc tới ngày Tết cổ truyền, dịp 30/4, 27/7, 22/12 hàng năm, mẹ thường chống gậy tìm đến bàn thờ thắp 9 ngọn nến, 9 nén hương và xếp 9 cái bát, 9 đôi đũa bên mâm cơm để gọi các con về với mẹ. Mẹ lại nức nở và thiếp đi trong cơn mê. Mẹ như thấy các con về …


