Khác

Nơi mở màn cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975

Đầu năm 1975, sau hơn 20 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thời cơ chiến lược đã đến với cách mạng Việt Nam. Đối với Mỹ, sau khi buộc phải rút khỏi miền Nam Việt Nam và tiếp theo là hàng loạt sự kiện đấu đá, xâu xé nhau trong giới cầm quyền Mỹ trong hai năm 1973 và 1974, nhất là “vụ Watergate” khiến Tổng thống Mỹ Richard Nixon phải từ chức, tình hình đối nội và đối ngoại của nước Mỹ gặp nhiều khủng hoảng. Mỹ khó có khả năng đưa quân quay trở lại Việt Nam; khả năng đó càng rõ hơn sau Chiến thắn

Vĩnh Long02/03/2026Võ Văn Na (xã Phước Long)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đầu năm 1975, sau hơn 20 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thời cơ chiến lược đã đến với cách mạng Việt Nam. Đối với Mỹ, sau khi buộc phải rút khỏi miền Nam Việt Nam và tiếp theo là hàng loạt sự kiện đấu đá, xâu xé nhau trong giới cầm quyền Mỹ trong hai năm 1973 và 1974, nhất là “vụ Watergate” khiến Tổng thống Mỹ Richard Nixon phải từ chức, tình hình đối nội và đối ngoại của nước Mỹ gặp nhiều khủng hoảng. Mỹ khó có khả năng đưa quân quay trở lại Việt Nam; khả năng đó càng rõ hơn sau Chiến thắng Phước Long 1974.

Tháng 12-1974, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu họp với tư lệnh các quân khu, quân đoàn ngụy để phán đoán hoạt động của ta trong năm 1975 và nhận định: Năm 1975, Việt Cộng không thể đánh lớn khắp miền Nam như Mậu Thân 1968, càng không thể như năm 1972. Chỉ có thể hoạt động ở một số vùng trọng điểm ở Tây Nguyên hoặc miền Đông Nam Bộ. Không thể có khả năng tiến công các thành phố lớn, chỉ có thể tiến công các thành phố, thị trấn như Gia Nghĩa... Mục tiêu chính của Việt Cộng là đánh chiếm một số căn cứ nhỏ xung quanh Tây Ninh để xây dựng trụ sở Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, chính là giành lại 2 triệu dân ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Xuất phát từ nhận định sai lầm về ta nên hình thái chung trong bố trí chiến lược của địch vẫn là “mạnh hai đầu”. Lực lượng địch còn rất lớn nhưng phải dàn ra trên một địa bàn quá rộng nên bị phân tán, bộc lộ nhiều sơ hở, đặc biệt là ở Nam Tây Nguyên và dọc ven biển miền Trung. Thế và lực đang trên đà suy yếu cộng với việc phán đoán sai lầm về hoạt động của ta dẫn đến sai lầm trong bố trí chiến trường là tình hình cơ bản nhất về địch ở miền Nam lúc đó.

Tháng 1-1975, Quân ủy Trung ương quyết định mở Chiến dịch Tây Nguyên nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng các tỉnh Nam Tây Nguyên, thực hiện chia cắt và tạo thế chiến lược mới trên toàn chiến trường miền Nam. Trọng điểm là tỉnh Đắk Lắk; mục tiêu then chốt quyết định là thị xã Buôn Ma Thuột; mục tiêu quan trọng là quận lỵ Đức Lập, Thuần Mẫn, Kiến Đức. Hướng phát triển là Cheo Reo, Gia Nghĩa (trong đó, Cheo Reo là hướng phát triển chủ yếu).

Theo kế hoạch, ngày 4-3-1975, bộ đội ta nổ súng mở Chiến dịch Tây Nguyên. Từ ngày 4 đến 9-3, ta đánh cắt giao thông trên các Đường 19 và 21, cô lập Tây Nguyên với vùng duyên hải miền Trung; chia cắt Đường 14 để cô lập hai khu vực Bắc Tây Nguyên với Nam Tây Nguyên; tiến công lần lượt đánh chiếm quận lỵ Thuần Mẫn, Đức Lập, cô lập triệt để Buôn Ma Thuột. Ngày 10 và 11-3-1975, ta tiến công thị xã Buôn Ma Thuột, đánh thắng trận then chốt mở đầu của chiến dịch. Tiếp đó, từ ngày 14 đến 18-3, ta đập tan cuộc phản kích của Sư đoàn 23 ngụy trong trận Nông Trại-Chư Cúc-Phước An. Bị thất bại và trước sức uy hiếp mạnh mẽ của ta, từ ngày 15-3, quân địch rút khỏi Kon Tum, Pleiku theo Đường 7 hòng co cụm về vùng đồng bằng ven biển. Không bỏ lỡ thời cơ, dưới sự chỉ đạo của Tổng Quân ủy, Bộ tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên kịp thời tổ chức truy kích, tiêu diệt gần hết quân địch rút chạy trên Đường 7 tại Cheo Reo, Củng Sơn. Sau đó, ta phát triển tiến công xuống vùng duyên hải Nam Trung Bộ, phối hợp với quân và dân địa phương lần lượt giải phóng các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, kết thúc chiến dịch vào ngày 3-4-1975. Kết quả chiến dịch: Ta tiêu diệt và làm tan rã Quân khu 2-Quân đoàn 2 ngụy, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 28.000 tên, thu và phá hủy 154 máy bay, gần 1.100 xe quân sự, giải phóng các tỉnh Tây Nguyên và một số tỉnh ở duyên hải Nam Trung Bộ.

Thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên là kết quả của sự vận dụng sáng tạo đường lối quân sự của Đảng, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Đó là thắng lợi của sự thống nhất giữa ý Đảng, lòng dân, đoàn kết hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng, giữa bộ đội chủ lực với bộ đội địa phương, dân quân du kích. Thắng lợi to lớn của Chiến dịch Tây Nguyên đã tạo ra sự thay đổi căn bản về so sánh tương quan lực lượng địch-ta trên toàn chiến trường miền Nam, tạo thế để ta phát triển thành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng miền Nam năm 1975.

Trong 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), những tên đất, tên làng, tên dòng sông, địa danh đã đi vào lịch sử dân tộc gắn liền với những chiến công oanh liệt, thể hiện khí phách của quân và dân Tây Nguyên, xứng đáng với vai trò, vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng của vùng đất này. Thực tiễn chiến trường Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý để vận dụng trong tình hình mới, nhất là phát huy sức mạnh ý chí, nghị lực, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong xây dựng Tây Nguyên phát triển nhanh, bền vững, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, bảo đảm quốc phòng, an ninh theo tinh thần Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 6-10-2022 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn