Nơi thành lập Chiến khu Trần Hưng Đạo
Nơi thành lập Chiến khu Trần Hưng ĐạoKhu di tích lịch sử cách mạng chùa Bắc Mã tại thôn Bắc Mã, xã Bình Dương và khu di tích đình, chùa Hổ Lao thuộc thôn Hổ Lao, xã Tân Việt cùng thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh là những di tích lịch sử gắn liền với cuộc khởi nghĩa vũ trang của du kích cách mạng Đông Triều và sự kiện thành lập Chiến khu Trần Hưng Đạo, còn gọi tên Đệ tứ Chiến khu - Chiến khu Đông Triều vào ngày 8/6/1945. Đệ tứ Chiến khu được xác định là tiền thân của Liên khu 3, Quân khu 3 ngày nay.
Tại Bảo tàng Quân khu 3 hiện đang lưu giữ một số hiện vật về sự kiện thành lập Chiến khu Trần Hưng Đạo và phong trào đấu tranh trong Cách mạng tháng Tám năm 1945 của quân và dân nơi đây. Đó là: Cuốc chim (1157-KL-325) do ông Năm, công nhân mỏ Mạo Khê, tỉnh Quảng Ninh sử dụng phá cầu chặn quân tiếp viện của địch từ Uông Bí về Đông Triều, tháng 6/1945; Súng ngắn (310-KL-178) của các du kích sử dụng giành chính quyền tại thị xã Quảng Yên, tháng 7/1945; Lựu đạn (127-KL-166) của Xưởng quân giới Mạo Khê, tỉnh Quảng Ninh sản xuất để trang bị cho du kích Chiến khu Trần Hưng Đạo giành chính quyền trong cao trào Cánh mạng tháng Tám năm 1945; Kiếm, mũi giáo của du kích sử dụng giành chính quyền tại thị xã Quảng Yên, tháng 7/1945. Chùa Bắc Mã (Phúc Chí Tự) được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia năm 1994, tên chùa có nghĩa là chùa hướng tới cái phúc. Theo các tài liệu nghiên cứu, chùa Bắc Mã là một tổng thể không gian kiến trúc quy mô được xây dựng trong một khuôn viên có diện tích tới ba mẫu đất… Chùa Bắc Mã đã đóng một vai trò quan trọng, bởi đây là một ngôi chùa lớn, có uy tín trong vùng và lại nằm ở nơi có truyền thống cách mạng và trở thành căn cứ cách mạng của Mặt trận Việt Minh thời kỳ tiền khởi nghĩa và kéo dài suốt những năm tháng kháng chiến chống thực dân Pháp. 
Một số hiện vật về sự kiện thành lập Chiến khu Trần Hưng Đạo và phong trào đấu tranh trong Cách mạng tháng Tám năm 1945 của quân và dân Chiến khu Trần Hưng Đạo. Ảnh Văn Nhuận. Nơi đây, sư cụ Võ Giác Thuyên thường xuyên tiếp đón các vị sư cách mạng mang danh nhà sư để dễ bề hoạt động. Đó là những cán bộ cách mạng đã tuyên truyền vận động nông dân Đông Triều, thợ mỏ Mạo Khê và binh lính trong các đồn bốt của Pháp cùng tập hợp lại và trở thành nòng cốt lập nên Chiến khu. Để chuẩn bị cho khởi nghĩa, Tỉnh ủy Hải Dương đã mở lớp tập huấn cho cán bộ ở chùa Bắc Mã, tổ chức quyên góp, sắm sửa vũ khí và lựa chọn những thanh niên hăng hái thành lập các đội tự vệ cứu quốc. Quân khởi nghĩa có khoảng 200 người, thành phần gồm công nhân mỏ Mạo Khê, Hạ Chiểu và thanh niên, tự vệ cứu quốc các huyện Đông Triều, Chí Linh, Kinh Môn, Thanh Hà… với 2 đội du kích tập trung làm nòng cốt. Về trang bị vũ khí, trừ một số ít súng máy, súng trường, súng kíp, lựu đạn còn phần lớn là gươm, cuốc, búa, gậy gộc. Ngay sau cuộc gặp tướng phỉ Lương Đại Bân, hai đồng chí Hải Thanh và Trần Cung về chùa Bắc Mã gặp đồng chí Nguyễn Bình cùng một số cán bộ Hải Phòng về. Ba đồng chí họp thống nhất nhận định: Điều kiện chủ quan, phải phát động khởi nghĩa vào ngày 8/6/1945, nếu để chậm thì vũ khí các đồn có thể lọt vào tay bọn phỉ, hoặc nếu phỉ làm động, Nhật sẽ tăng cường lực lượng, gây thêm khó khăn cho ta sau này. Đêm 7/6/1945 các đội nghĩa quân bí mật tập hợp tại các địa điểm gần 4 đồn. Sáng sớm 8/6/1945, tiếng súng khởi nghĩa bùng nổ trên một chiến tuyến dài 24km dọc theo đường số 18. Nghĩa quân cùng lúc đánh chiếm 4 đồn Đông Triều, Mạo Khê, Tràng Bạch, Chí Linh. Tại Đông Triều lực lượng của ta có gần 100 người do đồng chí Nguyễn Bình chỉ huy tập kết ở chùa Bắc Mã, chờ đêm tối chia làm hai cánh bắt đầu xuất kích. Theo kế hoạch đã hiệp đồng với đồng chí Nguyễn Hiền và các nhân mối, đúng 6 giờ ngày 8/6/1945 đội quân chủ lực của nghĩa quân giương cao cờ đỏ sao vàng ập vào đồn tước khí giới, chiếm huyện đường, tịch thu tài sản, giấy tờ. Nghĩa quân hạ đồn một cách nhanh chóng. Hầu hết quân lính tình nguyện theo ta, bên ngoài đồn, nhiều toán vũ trang ở thị trấn và các làng lân cận, vận động quần chúng hưởng ứng cuộc khởi nghĩa. Nghĩa quân đi đến đâu, nhân dân nổi dậy đến đấy, cùng khởi nghĩa truy quét bọn phản động. Ta phá kho thóc chia cho dân và tổ chức mít tinh nói rõ chủ trương chính sách của mặt trận Việt Minh.
Bia di tích “Đệ tứ Chiến khu”. Ảnh tư liệu. Tại Mạo khê, trực tiếp chỉ huy cuộc tập kích tước khí giới đồn bảo an Mạo Khê là đồng chí Nguyễn Đài. Nhận được lệnh khởi nghĩa, công nhân, thanh niên tự vệ vũ trang mỏ và khu phố Mạo Khê dùng cuốc chim, búa, dao… vừa tổ chức bao vây khu nhà ỏ của bọn chủ mỏ, vừa đột nhập vào các bốt gác bảo an tịch thu vũ khí. Bọn chủ mỏ người Pháp và bọn chỉ huy người Nhật nhanh chóng đầu hàng. Quân khởi nghĩa chiếm toàn bộ vũ khí của bảo an, chiếm nhà máy, bến cảng và các công sở của chính quyền Nhật. Chỉ trong vòng hai tiếng đồng hồ quân khởi nghĩa đã hoàn toàn làm chủ Mạo Khê. Tại Tràng Bạch, chỉ huy đánh đồn này là đồng chí Trần Cung. Khi ta cử người đến thuyết phục, tên đoàn trưởng tỏ thái độ rất ngoan cố. Ban lãnh đạo khởi nghĩa quyết định tập trung số lớn vũ khí hiện có, lấy nòng cốt là một tiểu đội du kích được trang bị đầy đủ vũ khí, trong đó có một đại liên, 1 súng phóng lựu đạn. Công nhân Hạ Chiểu bao vây quanh đồn, tiểu đội du kích tập trung cải trang làm lính Nhật đi tuần tra để đột nhập vào đồn. Sau khi lừa được tên gác cổng, quân ta nhanh chóng xông vào chiếm các ổ chiến đấu, đồng thời dùng đại liên bắn vào lô cốt chính. Nghĩa quân từ các ngả vượt tường tràn vào đồn, cùng lúc đó tiếng hô xung phong của thanh niên, công nhân xung quanh đồn vang dội. Bị đánh bất ngờ, bọn địch trở tay không kịp, bị du kích bắt sống toàn bộ và thu hết vũ khí. Tại Chí Linh, chỉ huy đánh đồn là đồng chí Hải Thanh và đồng chí Lê Hai. Sau khi thống nhất kế hoạch, ta điều một bộ phận nghĩa quân do đồng chí Đặng Tính phụ trách, bố trí chặn quân Nhật từ Phả Lại xuống, một bộ phận bố trí trong và ngoài thị trấn Chí Linh để hỗ trợ cho cơ sở Việt Minh và nhân dân nổi dậy khởi nghĩa. Đồng chí Hải Thanh viết thư kêu gọi rồi cho người cầm lên đồn. Sau đó, du kích giương cờ đỏ sao vàng kêu gọi binh lính đầu hàng. Quân lính nhận được truyền đơn và thấy cờ đỏ sao vàng mới tin là Việt Minh đến bao vây nên bảo nhau buông súng. Ta chiếm đồn thu hết giấy tờ, phá kho thóc chia cho dân, tổ chức mít tinh, tuyên bố giải tán chính quyền bù nhìn, hô hào nhân dân ủng hộ cách mạng, tham gia kháng nhật. Bọn phỉ dàn quân bên ngoài thấy ta lấy đồn nhanh chóng, lại được nhân dân ủng hộ nhiệt liệt nên rất ngạc nhiên và khâm phục, cho rằng lực lượng ta rất mạnh. Sau trận này, uy thế của quân du kích cách mạng càng được nâng cao làm quân phỉ phải kiêng nể.
Ảnh các đồng chí lãnh đạo Chiến khu Trần Hưng Đạo tại Bảo tàng Quân khu 3. Ảnh Văn Nhuận. Cuộc khởi nghĩa của du kích quân cách mạng và nhân dân Đông Triều, Chí Linh giành thắng lợi trọn vẹn, các đoàn nghĩa quân cách mạng đã cùng về sân đình Hổ Lao tổ chức mít tinh tuyên bố thành lập Chiến khu và thành lập Ủy ban Quân sự cách mạng do đồng chí Nguyễn Bình, Trần Cung, Hải Thanh phụ trách. Từ đây, Chiến khu không chỉ củng cố, xây dựng lực lượng và đóng quân ở Đông Triều mà đã nhanh chóng tỏa ra cả một địa bàn rộng lớn ở vùng duyên hải Bắc Bộ, cùng các địa phương đập tan chính quyền thực dân phong kiến và tay sai trước và trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, thời gian, đình, chùa Hổ Lao đã nhiều lần bị tàn phá, rồi được nhân dân trùng tu lại, tổ chức lễ hội đầu xuân... Năm 2001, đình, chùa Hổ Lao được công nhận khu di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia. Những ngôi đền, chùa trong khu di tích Chiến khu Đông Triều gắn liền với tên tuổi của Chỉ huy trưởng Chiến khu Nguyễn Bình, vị tướng huyền thoại trong lịch sử. Nguyễn Bình tên thật là Nguyễn Phương Thảo, sinh năm 1908 tại làng An Phú, xã Tiến Thịnh, huyện Yên Mỹ (Hưng Yên). Sau cuộc khởi nghĩa ở Đông Triều thắng lợi, ông đã tham gia lãnh đạo, chỉ đạo khởi nghĩa giành chính quyền ở Hải Phòng, Hải Dương. Sau Hội nghị quân sự Bắc kỳ họp từ ngày 15 đến 20/4/1945 quyết định chia cả nước thành 7 chiến khu, Bắc Bộ có 4 quân khu gồm quân khu Lê Lợi, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung và Trần Hưng Đạo (còn gọi là Đệ tứ Chiến khu do Nguyễn Bình chỉ huy). Nguyễn Bình trực tiếp chỉ huy nhiều trận đánh lớn, thu nhiều vũ khí. Đặc biệt tháng 7/1945, ông tổ chức đánh và giải phóng thị xã Quảng Yên. Đây là tỉnh duy nhất được giải phóng trước cách mạng tháng Tám. Ông được Bác Hồ phong quân hàm Trung tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam vào tháng 1/1948, và Bác Hồ đã tin tưởng “giao miền Nam cho chú”… Ông là người có vai trò to lớn trong việc thống nhất các lực lượng vũ trang ở Nam Bộ trong thời kỳ Nam Bộ kháng chiến chống thực dân Pháp quay lại xâm chiếm nước ta lần thứ 2 (9/1945). Ông bị phục kích và hy sinh ngày 2/9/1951 tại tỉnh Ráp-ta-na-ki-ri (Cam-pu-chia). Ông đã được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Phần mộ liệt sĩ hiện đặt tại Nghĩa trang liệt sĩ thành phố Hồ Chí Minh./.

Một số hiện vật về sự kiện thành lập Chiến khu Trần Hưng Đạo và phong trào đấu tranh trong Cách mạng tháng Tám năm 1945 của quân và dân Chiến khu Trần Hưng Đạo. Ảnh Văn Nhuận. Nơi đây, sư cụ Võ Giác Thuyên thường xuyên tiếp đón các vị sư cách mạng mang danh nhà sư để dễ bề hoạt động. Đó là những cán bộ cách mạng đã tuyên truyền vận động nông dân Đông Triều, thợ mỏ Mạo Khê và binh lính trong các đồn bốt của Pháp cùng tập hợp lại và trở thành nòng cốt lập nên Chiến khu. Để chuẩn bị cho khởi nghĩa, Tỉnh ủy Hải Dương đã mở lớp tập huấn cho cán bộ ở chùa Bắc Mã, tổ chức quyên góp, sắm sửa vũ khí và lựa chọn những thanh niên hăng hái thành lập các đội tự vệ cứu quốc. Quân khởi nghĩa có khoảng 200 người, thành phần gồm công nhân mỏ Mạo Khê, Hạ Chiểu và thanh niên, tự vệ cứu quốc các huyện Đông Triều, Chí Linh, Kinh Môn, Thanh Hà… với 2 đội du kích tập trung làm nòng cốt. Về trang bị vũ khí, trừ một số ít súng máy, súng trường, súng kíp, lựu đạn còn phần lớn là gươm, cuốc, búa, gậy gộc. Ngay sau cuộc gặp tướng phỉ Lương Đại Bân, hai đồng chí Hải Thanh và Trần Cung về chùa Bắc Mã gặp đồng chí Nguyễn Bình cùng một số cán bộ Hải Phòng về. Ba đồng chí họp thống nhất nhận định: Điều kiện chủ quan, phải phát động khởi nghĩa vào ngày 8/6/1945, nếu để chậm thì vũ khí các đồn có thể lọt vào tay bọn phỉ, hoặc nếu phỉ làm động, Nhật sẽ tăng cường lực lượng, gây thêm khó khăn cho ta sau này. Đêm 7/6/1945 các đội nghĩa quân bí mật tập hợp tại các địa điểm gần 4 đồn. Sáng sớm 8/6/1945, tiếng súng khởi nghĩa bùng nổ trên một chiến tuyến dài 24km dọc theo đường số 18. Nghĩa quân cùng lúc đánh chiếm 4 đồn Đông Triều, Mạo Khê, Tràng Bạch, Chí Linh. Tại Đông Triều lực lượng của ta có gần 100 người do đồng chí Nguyễn Bình chỉ huy tập kết ở chùa Bắc Mã, chờ đêm tối chia làm hai cánh bắt đầu xuất kích. Theo kế hoạch đã hiệp đồng với đồng chí Nguyễn Hiền và các nhân mối, đúng 6 giờ ngày 8/6/1945 đội quân chủ lực của nghĩa quân giương cao cờ đỏ sao vàng ập vào đồn tước khí giới, chiếm huyện đường, tịch thu tài sản, giấy tờ. Nghĩa quân hạ đồn một cách nhanh chóng. Hầu hết quân lính tình nguyện theo ta, bên ngoài đồn, nhiều toán vũ trang ở thị trấn và các làng lân cận, vận động quần chúng hưởng ứng cuộc khởi nghĩa. Nghĩa quân đi đến đâu, nhân dân nổi dậy đến đấy, cùng khởi nghĩa truy quét bọn phản động. Ta phá kho thóc chia cho dân và tổ chức mít tinh nói rõ chủ trương chính sách của mặt trận Việt Minh.

Bia di tích “Đệ tứ Chiến khu”. Ảnh tư liệu. Tại Mạo khê, trực tiếp chỉ huy cuộc tập kích tước khí giới đồn bảo an Mạo Khê là đồng chí Nguyễn Đài. Nhận được lệnh khởi nghĩa, công nhân, thanh niên tự vệ vũ trang mỏ và khu phố Mạo Khê dùng cuốc chim, búa, dao… vừa tổ chức bao vây khu nhà ỏ của bọn chủ mỏ, vừa đột nhập vào các bốt gác bảo an tịch thu vũ khí. Bọn chủ mỏ người Pháp và bọn chỉ huy người Nhật nhanh chóng đầu hàng. Quân khởi nghĩa chiếm toàn bộ vũ khí của bảo an, chiếm nhà máy, bến cảng và các công sở của chính quyền Nhật. Chỉ trong vòng hai tiếng đồng hồ quân khởi nghĩa đã hoàn toàn làm chủ Mạo Khê. Tại Tràng Bạch, chỉ huy đánh đồn này là đồng chí Trần Cung. Khi ta cử người đến thuyết phục, tên đoàn trưởng tỏ thái độ rất ngoan cố. Ban lãnh đạo khởi nghĩa quyết định tập trung số lớn vũ khí hiện có, lấy nòng cốt là một tiểu đội du kích được trang bị đầy đủ vũ khí, trong đó có một đại liên, 1 súng phóng lựu đạn. Công nhân Hạ Chiểu bao vây quanh đồn, tiểu đội du kích tập trung cải trang làm lính Nhật đi tuần tra để đột nhập vào đồn. Sau khi lừa được tên gác cổng, quân ta nhanh chóng xông vào chiếm các ổ chiến đấu, đồng thời dùng đại liên bắn vào lô cốt chính. Nghĩa quân từ các ngả vượt tường tràn vào đồn, cùng lúc đó tiếng hô xung phong của thanh niên, công nhân xung quanh đồn vang dội. Bị đánh bất ngờ, bọn địch trở tay không kịp, bị du kích bắt sống toàn bộ và thu hết vũ khí. Tại Chí Linh, chỉ huy đánh đồn là đồng chí Hải Thanh và đồng chí Lê Hai. Sau khi thống nhất kế hoạch, ta điều một bộ phận nghĩa quân do đồng chí Đặng Tính phụ trách, bố trí chặn quân Nhật từ Phả Lại xuống, một bộ phận bố trí trong và ngoài thị trấn Chí Linh để hỗ trợ cho cơ sở Việt Minh và nhân dân nổi dậy khởi nghĩa. Đồng chí Hải Thanh viết thư kêu gọi rồi cho người cầm lên đồn. Sau đó, du kích giương cờ đỏ sao vàng kêu gọi binh lính đầu hàng. Quân lính nhận được truyền đơn và thấy cờ đỏ sao vàng mới tin là Việt Minh đến bao vây nên bảo nhau buông súng. Ta chiếm đồn thu hết giấy tờ, phá kho thóc chia cho dân, tổ chức mít tinh, tuyên bố giải tán chính quyền bù nhìn, hô hào nhân dân ủng hộ cách mạng, tham gia kháng nhật. Bọn phỉ dàn quân bên ngoài thấy ta lấy đồn nhanh chóng, lại được nhân dân ủng hộ nhiệt liệt nên rất ngạc nhiên và khâm phục, cho rằng lực lượng ta rất mạnh. Sau trận này, uy thế của quân du kích cách mạng càng được nâng cao làm quân phỉ phải kiêng nể.

Ảnh các đồng chí lãnh đạo Chiến khu Trần Hưng Đạo tại Bảo tàng Quân khu 3. Ảnh Văn Nhuận. Cuộc khởi nghĩa của du kích quân cách mạng và nhân dân Đông Triều, Chí Linh giành thắng lợi trọn vẹn, các đoàn nghĩa quân cách mạng đã cùng về sân đình Hổ Lao tổ chức mít tinh tuyên bố thành lập Chiến khu và thành lập Ủy ban Quân sự cách mạng do đồng chí Nguyễn Bình, Trần Cung, Hải Thanh phụ trách. Từ đây, Chiến khu không chỉ củng cố, xây dựng lực lượng và đóng quân ở Đông Triều mà đã nhanh chóng tỏa ra cả một địa bàn rộng lớn ở vùng duyên hải Bắc Bộ, cùng các địa phương đập tan chính quyền thực dân phong kiến và tay sai trước và trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, thời gian, đình, chùa Hổ Lao đã nhiều lần bị tàn phá, rồi được nhân dân trùng tu lại, tổ chức lễ hội đầu xuân... Năm 2001, đình, chùa Hổ Lao được công nhận khu di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia. Những ngôi đền, chùa trong khu di tích Chiến khu Đông Triều gắn liền với tên tuổi của Chỉ huy trưởng Chiến khu Nguyễn Bình, vị tướng huyền thoại trong lịch sử. Nguyễn Bình tên thật là Nguyễn Phương Thảo, sinh năm 1908 tại làng An Phú, xã Tiến Thịnh, huyện Yên Mỹ (Hưng Yên). Sau cuộc khởi nghĩa ở Đông Triều thắng lợi, ông đã tham gia lãnh đạo, chỉ đạo khởi nghĩa giành chính quyền ở Hải Phòng, Hải Dương. Sau Hội nghị quân sự Bắc kỳ họp từ ngày 15 đến 20/4/1945 quyết định chia cả nước thành 7 chiến khu, Bắc Bộ có 4 quân khu gồm quân khu Lê Lợi, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung và Trần Hưng Đạo (còn gọi là Đệ tứ Chiến khu do Nguyễn Bình chỉ huy). Nguyễn Bình trực tiếp chỉ huy nhiều trận đánh lớn, thu nhiều vũ khí. Đặc biệt tháng 7/1945, ông tổ chức đánh và giải phóng thị xã Quảng Yên. Đây là tỉnh duy nhất được giải phóng trước cách mạng tháng Tám. Ông được Bác Hồ phong quân hàm Trung tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam vào tháng 1/1948, và Bác Hồ đã tin tưởng “giao miền Nam cho chú”… Ông là người có vai trò to lớn trong việc thống nhất các lực lượng vũ trang ở Nam Bộ trong thời kỳ Nam Bộ kháng chiến chống thực dân Pháp quay lại xâm chiếm nước ta lần thứ 2 (9/1945). Ông bị phục kích và hy sinh ngày 2/9/1951 tại tỉnh Ráp-ta-na-ki-ri (Cam-pu-chia). Ông đã được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Phần mộ liệt sĩ hiện đặt tại Nghĩa trang liệt sĩ thành phố Hồ Chí Minh./.



