Cựu Thanh niên xung phong

Nơi tuổi hai mươi ở lại

Bài viết “Nơi tuổi hai mươi ở lại” là một câu chuyện giàu cảm xúc về bà nội Phan Thị Vân và những năm tháng tuổi trẻ của bà khi tham gia thanh niên xung phong tại đơn vị Xây dựng Kinh tế – Thủ đô ở Thái Nguyên từ năm 1985, khi bà mới 19 tuổi. Bài viết về bà Bài viết không tập trung vào những sự kiện lớn lao mà kể về tuổi trẻ của bà qua những chi tiết rất đời thường và giàu sức gợi: mái tóc dài tết bím, căn nhà sàn nhỏ, tiếng hát và những bài thơ, mái tóc rụng vì cuộc sống thiếu thốn, nhúm chè và vài quả bồ kết cụ Mây dành cho bà, những chiếc khăn tay thêu hoa cúc bà tặng mọi người trước ngày trở về. Đặc biệt, câu chuyện giữa bà và cụ Mây làm nổi bật tình người ấm áp: dù cuộc sống còn khó khăn, con người vẫn biết quan tâm, chăm sóc và yêu thương nhau bằng những điều rất giản dị. Bài viết về bà Qua hình ảnh người bà ở tuổi mười chín, bài viết tạo nên sự đối chiếu giữa tuổi trẻ của thế hệ trước và tuổi trẻ hôm nay. Nếu tuổi trẻ hiện tại được sống trong hòa bình, có gia đình, trường lớp và nhiều điều kiện để thực hiện ước mơ thì tuổi trẻ của bà gắn với xa nhà, thiếu thốn và những năm tháng cống hiến. Tuy vậy, điều còn lại sâu sắc nhất không phải gian khổ mà chính là tình yêu thương, sự sẻ chia và những ký ức đẹp giữa con người với con người.

Hà Nội06/10/2026Triệu Sinh Viễn/ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Xã Ba Vì (xã Ba Vì)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Nơi tuổi hai mươi ở lại

NƠI TUỔI HAI MƯƠI Ở LẠI

Có những câu chuyện về tuổi trẻ không bắt đầu bằng những điều lớn lao. Đôi khi, câu chuyện chỉ bắt đầu từ một mái tóc dài được tết thành bím, một căn nhà sàn nhỏ, một câu hát ngân nga trong buổi chiều xa nhà, một nhúm chè, vài quả bồ kết và chiếc khăn tay thêu những bông cúc nhỏ. Đó là câu chuyện về bà nội em - bà Phan Thị Vân - và tuổi mười chín bà đã gửi lại nơi đất Thái Nguyên. Năm 1985, vừa tròn 19 tuổi, bà rời gia đình, tham gia thanh niên xung phong tại đơn vị Xây dựng Kinh tế - Thủ đô. Bà được phân công làm công việc văn thư: kiểm tra, sắp xếp, soạn thảo giấy tờ; khi cần lại xuống bếp nấu ăn cho các chiến sĩ.

Mỗi lần nghe bà kể, em thường nghĩ về tuổi mười chín của bà và tuổi trẻ của chúng em hôm nay. Tuổi mười chín của chúng em có trường lớp, bạn bè, những bữa cơm gia đình và biết bao dự định cho tương lai. Còn tuổi mười chín của bà bắt đầu bằng một cuộc chia tay. Bà rời mái nhà quen thuộc, đến một vùng đất xa lạ, sống trong căn nhà sàn nhỏ giữa những năm tháng đất nước còn nhiều khó khăn. Cuộc sống khi ấy thiếu thốn đủ bề. Những bữa ăn không phải lúc nào cũng đủ chất, điều kiện sinh hoạt còn đơn sơ. Nhưng giữa những ngày tháng ấy, bà vẫn giữ được nét trong trẻo của một cô gái tuổi đôi mươi. Bà có mái tóc dài, đen và thường tết thành một bím gọn gàng. Bà hát hay, thích ngâm thơ và thường làm những bài thơ nhỏ về những người chiến sĩ. Bà con nơi ấy yêu quý, gọi bà bằng cái tên thật trìu mến: “Cô ca sĩ văn thư.”

Ban ngày là cô văn thư cẩn thận bên những tập giấy tờ. Khi công việc tạm gác lại, bà lại cất tiếng hát, đọc những câu thơ của mình cho mọi người nghe. Bà vẫn thường ngân nga:

“Nhớ đôi mươi cô gái quê đồng... ngọt thơm hương tóc xa gần tôi đi.”

Ngày bé, em nghe bà hát mà không nghĩ nhiều. Bây giờ, mỗi lần nghe đến hai chữ “đôi mươi”, em lại hình dung một cô gái có mái tóc dài đen nhánh, đứng ở một nơi xa quê, phía trước còn cả cuộc đời rộng dài. Nhưng đến năm thứ ba ở Thái Nguyên, những thiếu thốn bắt đầu để lại dấu vết trên chính cô gái trẻ ấy. Tóc bà rụng rất nhiều. Từ mái tóc dài thường được tết thành bím, tóc cứ thưa dần, thưa dần, cho đến khi chỉ còn lại một nhúm. Bà kể với em:

“Bà xót mái tóc lắm con à. Bà cứ chải rồi vuốt mà tóc cứ thưa dần thành từng mảnh.”

Mỗi lần nghe câu ấy, em đều thấy nghẹn lòng. Bởi em nghĩ bà đâu chỉ xót một mái tóc. Có lẽ bà còn xót cả hình ảnh cô gái trẻ mà mình từng là. Mười chín, đôi mươi – độ tuổi người con gái bắt đầu biết làm đẹp, biết yêu mái tóc, biết mơ về tương lai. Vậy mà ở một nơi xa nhà, bà phải lặng lẽ nhìn mái tóc mình rụng đi từng ngày.

Nhưng điều bà nhớ nhất sau hơn bốn mươi năm không phải là mình đã khổ như thế nào. Bà nhớ những người đã thương mình. Gần nơi bà ở có một bà cụ tên là cụ Mây. Cụ đã già, không có con cái, sống một mình. Thương cụ cô quạnh, bà thường sang giúp những việc nhỏ: khi nấu cơm, lúc dọn dẹp, có hôm chẳng làm gì, chỉ ngồi bên cụ trò chuyện. Một cô gái mới bước vào tuổi thanh xuân và một người phụ nữ đã đi gần hết cuộc đời cứ thế trở nên thân thiết. Bà chăm sóc cụ như một người thân. Còn cụ Mây cũng thương bà như con cháu trong nhà. Khi thấy tóc bà rụng nhiều, cụ tìm những quả bồ kết, lấy thêm một nhúm chè, cẩn thận gói vào chiếc khăn xô rồi đưa cho bà:

“Con hãy cứ cầm lấy dùng, các cô gái trẻ dùng thứ này gội đầu tốt lắm con à.”

Chỉ vậy thôi. Một ít bồ kết. Một nhúm chè. Một chiếc khăn xô. Những thứ chẳng đáng bao nhiêu tiền, nhưng hơn bốn mươi năm rồi bà vẫn nhớ. Có lẽ bởi ngày ấy, điều cụ Mây trao cho bà không chỉ là bồ kết và chè. Đó còn là sự chở che dành cho một cô gái trẻ đang ở xa gia đình. Giữa lúc bà buồn nhất vì mái tóc của mình, có một người đã nhìn thấy nỗi buồn ấy và thương bà. Em nghĩ, tình thương đôi khi giản dị đến thế. Không cần phải có thật nhiều mới có thể cho đi. Đôi khi người ta chỉ có một nhúm chè, vài quả bồ kết, một bữa cơm hay một lời hỏi han, nhưng nếu trao đúng lúc, nó có thể ở lại trong ký ức của một người suốt cả cuộc đời.

Bà cũng trao lại cho những người nơi ấy tất cả những gì một cô gái trẻ có thể trao. Đó là những bữa cơm bà nấu cho cụ Mây. Là những lần bà sang giúp đỡ bà con. Là tiếng hát, những bài thơ, những câu chuyện vui giữa những ngày còn nhiều thiếu thốn. Và rồi năm 1990, sau năm năm gắn bó, ngày bà trở về cũng đến. Hôm ấy bà dậy rất sớm. Bà xếp lại những tập thơ của mình. Bà chuẩn bị những chiếc khăn tay do chính mình thêu để tặng mọi người. Ở góc mỗi chiếc khăn là những bông hoa cúc nhỏ. Em rất yêu chi tiết ấy. Hoa cúc không rực rỡ, không kiêu sa. Những bông hoa nhỏ bé và bình dị, giống như tình cảm của bà dành cho mảnh đất và những con người đã cưu mang mình suốt những năm tháng tuổi trẻ. Bà tặng mọi người khăn tay. Bà tặng những bài thơ mình viết về Thái Nguyên.

Có lẽ đó là những thứ quý giá nhất cô gái trẻ khi ấy có thể để lại. Bởi trong mỗi chiếc khăn không chỉ có những bông cúc được thêu bằng chỉ. Ở đó còn có những đêm bà ngồi tỉ mẩn từng đường kim, có những ngày tháng bà đã sống, có tiếng hát, nỗi buồn, niềm vui và cả lời cảm ơn mà đôi khi một cô gái trẻ không biết phải nói thành lời thế nào. Ngày trở về, bà khóc rất nhiều. Bà khóc khi phải rời căn nhà sàn nhỏ. Khóc khi chia tay những người đã yêu thương mình. Và chắc hẳn bà đã khóc rất nhiều khi phải rời cụ Mây – người bà từng mang cơm sang chăm sóc, cũng là người đã cẩn thận gói cho bà một nhúm chè và ít bồ kết trong những ngày bà buồn nhất.

Bây giờ, mái tóc dài của bà đã bạc, những năm tháng ở Thái Nguyên cũng đã lùi xa. Nhưng qua mỗi câu chuyện bà kể, em vẫn thấy cô gái mười chín tuổi năm nào – giản dị, trong trẻo, biết yêu thương và được yêu thương. Năm 1990, bà trở về nhà, nhưng một phần tuổi trẻ của bà đã ở lại nơi ấy: trong căn nhà sàn nhỏ, trong những chiếc khăn thêu hoa cúc, trong nhúm chè, hương bồ kết và tình người ấm áp. Còn em sẽ mang câu chuyện của bà đi tiếp, để luôn nhớ rằng bình yên hôm nay là điều đáng biết ơn, tuổi trẻ hôm nay là điều cần trân trọng và hòa bình cần được gìn giữ bằng chính cách chúng ta sống mỗi ngày.

 

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn