Nói và viết giản dị
Nói và viết giản dị
Hồ Chí Minh nói và viết vô cùng giản dị. Ngay cả khi Người diễn giải, dịch nghĩa phát biểu của các nhà kinh điển, Người cũng cố gắng làm cho thật dễ hiểu, thật gần gũi với trình độ và văn phong Việt Nam. Nói chuyện với nhân dân, Người không dùng các khái niệm, phạm trù mà thường sử dụng gần như ngôn ngữ thông thường. Chẳng hạn, khi nói về giá trị của độc lập - tự do, Người đã viết rất giản dị từ tháng 12.1946: “Tổ quốc độc lập, thì ai cũng được tự do. Nếu mất nước, thì ai cũng phải làm nô lệ”[1] và sau này khái quát như chân lý ở Lời kêu gọi ngày 17.7.1966: “Không có gì quý hơn Độc lập tự do”.
Đi khắp năm châu, bốn biển, đọc thông, viết thạo 8 thứ tiếng: Pháp, Anh, Trung Quốc, Italy, Đức, Nga, Tây Ban Nha, Thái Lan[2], từng làm thơ bằng tiếng Hán, Chủ tịch Hồ Chí Minh hoàn toàn có thể viết được những bài chính luận sắc sảo bàn về triết học, chính trị kinh tế học, xã hội học… đề cập tới nhiều vấn đề như các lãnh tụ cùng thời trên thế giới. Song như Người đã tự bộc bạch trong cuốn Đường Kách mệnh: “Sách này muốn nói cho vắn tắt, dễ hiểu, dễ nhớ. Chắc có người sẽ chê rằng văn chương cụt quằn. Vâng! Đây nói việc gì thì nói rất giản tiện, mau mắn, chắc chắn như 2 lần 2 là 4, không tô vẽ trang hoàng gì cả”[3].
Ngay trong kháng chiến chống Pháp và sau ngày hòa bình, Hồ Chí Minh vẫn thường lấy câu chuyện Người gặp một số đồng bào đi học “cái Các Mác, cái Lênin” trên chiến khu về, hỏi học ra sao, đồng bào trả lời rằng hay thì rất hay, nhưng chẳng hiểu, chẳng nhớ gì cả, để nhắc nhở mọi người khi nói, khi viết phải lưu ý tự trả lời ba câu hỏi: Viết cho ai xem? Viết để làm gì? Viết như thế nào cho phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc



