Nông Văn Vân - Tiết chế Thượng tướng quân cùng dân đồng lòng khởi nghĩa
Nông Văn Vân xuất thân dòng dõi thổ ty châu Bảo Lạc. Căn cứ vào ghi chép trong Bắc Kỳ tiễu phỉ, vào khoảng giữa thế kỷ XVIII, châu Bảo Lạc thuộc quyền quản lĩnh của Thổ ty Nông Văn Bật. Thời Tây Sơn, con của Nông Văn Bật là Nông Văn Liêm thế tập cai quản đất Bảo Lạc. Sang thời Nguyễn, sau khi Nông Văn Liêm và con trưởng là Nông Văn Trang mất, người con thứ hai là Nông Văn Vân giữ chức Tri châu Bảo Lạc.

Nông Văn Vân là anh vợ của Lê Văn Khôi (người cầm đầu cuộc nổi dậy ở Nam Kỳ cùng thời gian đó). Chắc rằng giữa hai người đã có một mối liên hệ với nhau để cùng khởi sự.
Cuộc nổi dậy của Nông Văn Vân bùng nổ năm 1833. Ngay từ buổi đầu, Nông Văn Vân được rất nhiều thổ ty, thổ mục tham gia hưởng ứng như Ma Sĩ Vinh, Ma Doãn Cao ở Bảo Lạc; Nguyễn Thế Nga, Ma Trọng Đại, Ma Trường An ở Vị Xuyên (nay thuộc tỉnh Hà Giang); Lưu Trọng Chương, Hoàng Trinh Tuyên ở Lục Yên (Yên Bái); Nguyễn Quảng Khải, Ma Đức Thái, Ma Doãn Dưỡng ở châu Đại Man.
Từ Bảo Lạc, quân nổi dậy tiến công chiếm đồn Ninh Biên, Bố chính Phạm Phổ thua trận phải tự tử. Thừa thắng, quân nổi dậy mở rộng địa bàn tiến đánh xuống Bắc Kạn, Thái Nguyên. Cả một dải biên giới Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn chấn động. Trong khoảng thời gian hơn 2 năm (1833 - 1835), triều đình nhà Nguyễn chủ yếu tập trung tài lực vào việc tổ chức hành binh đàn áp các cuộc nổi dậy ở trong Nam, ngoài Bắc. Cao Bằng, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thái Nguyên là những chiến trường sôi động. Chính sử nhà Nguyễn ghi chép lại khá đầy đủ các trận đánh lớn giữa quân nổi dậy với quân triều đình. Ví như trận đánh đồn Ninh Biên, trận đánh đồn Na Cù (Bắc Kạn) có tới 3.000 quân nổi dậy tham gia. Trong trận vây đánh tỉnh thành Cao Bằng do Nông Văn Vân và Bế Văn Cận chỉ huy, lực lượng quân nổi dậy lên đến 6.000 người. Trong suốt diễn trình của cuộc nổi dậy, Nông Văn Vân chọn Vân Trung, Ngọc Mạo là căn cứ chỉ huy. Căn cứ Ngọc Mạo được Nguyễn Công Trứ mô tả trong một tờ sớ gửi vua Minh Mệnh cuối năm 1833 như sau: Ngọc Mạo là sào huyệt riêng của “giặc” Vân. Bốn bề đều là vách núi, giữa thì rộng rãi và có cánh đồng bằng phẳng ước đến 2.000 mẫu, số dân cư hoặc 3 nhà một, hoặc 5 nhà một ở thành thôn xóm, có 50 nóc nhà ngói, hơn 100 nóc nhà tranh, nhưng tìm khắp nơi không một bóng người”. Lợi dụng địa hình núi non hiểm trở, quân nổi dậy xuất quỷ nhập thần thường xuyên phục kích gây nhiểu tổn thất cho các đạo quân của triều đình vốn không quen thủy thổ và địa bàn. Từ căn cứ này, nỗi khi bị quân triều đình vây ráp khẩn cấp, quân nổi dậy có thể sang bên kia biên giới ẩn tránh và quay lại hoạt động khi có thời cơ.
Quyết tâm dập tắt bằng được cuộc nổi dậy, nhà Nguyễn đã huy động lực lượng và vũ khí tối đa, cử nhiều tướng giỏi trực tiếp chỉ huy. Biền binh các tỉnh Hà Nội, Thanh Hóa, Sơn Tây, Bắc Ninh thường xuyên được điều động lên Cao Bằng.

Trung tâm huyện Bảo Lạc. Ảnh: Thế Vĩnh
Cuối tháng 8, đầu tháng 9 năm Quý Tỵ (1833), Nông Văn Vân đem quân vây hãm tỉnh thành Cao Bằng hơn 1 tháng. Trong thành cạn lương thực, thuốc súng cũng hết, quân cứu viện của nhà Nguyễn do Tạ Quang Cự chỉ huy thì bị chặn đánh ở Lạng Sơn nên không ứng cứu kịp thời. Thế cùng, lực kiệt, Bố chính Cao Bằng là Bùi Tăng Huy, Án sát Phạm Đình Trạc và Lãnh binh Phạm Văn Lưu đành phải tự vẫn. Nông Văn Vân chiếm được tỉnh thành, chiến lợi phẩm thu được là 4 khẩu súng thần công và 42 cỗ pháo rồi rút lui.
Thanh thế của cuộc nổi dậy khiến cho Minh Mệnh rất lo sợ. Nhà Nguyễn điều động nhiều tướng giỏi như Tạ Quang Cự, Phạm Văn Đức chỉ huy quân chủ lực của triều đình phối hợp với các cơ đội ở các tỉnh Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn... ra sức đàn áp nhưng không có kết quả.
Đầu năm 1834, Minh Mệnh treo thưởng cho người nào bắt, chém được Nông Văn Vân thì thưởng 500 lạng bạc và cho hàm ngũ phẩm và sau đó mức thưởng tăng lên là 1.000 lạng bạc và cho làm quan hàm tứ phẩm.
Tháng 6 năm Giáp Ngọ (1834), Nông Văn Vân lại đem khoảng 6.000 quân vây hãm và chiếm tỉnh thành Cao Bằng lần thứ hai. Quân nổi dậy chiếm giữ thành trong gần hai tháng (từ ngày 16/6 - 11/8 năm Giáp Ngọ 1834).
Tháng 10/1834, ba cánh quân của nhà Nguyễn dưới sự chỉ huy của Lê Văn Đức, Phạm Văn Điển, Tạ Quang Cự, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Đình Phổ, Hồ Hựu… từ Sơn Tây, Lạng Sơn, Thái Nguyên tiến lên Cao Bằng. Tuy nhiên trước đó, Nông Văn Vân đã rút khỏi tỉnh thành trở về Bảo Lạc.
Từ sau khi tỉnh thành Cao Bằng bị quân triều đình chiếm lại, thủ lĩnh Bế Văn Cận bị phục kích và bị giết ở đồn Ninh Lạc (ngày 12/8), Nông Văn Vân rút về Bảo Lạc, xây dựng căn cứ mới ở Na Tình... Tháng 3 năm 1835, trong một trận quân nhà Nguyễn tấn công vào căn cứ Na Tình, Nông Văn Vân bị đốt cháy, cuộc nổi dậy về cơ bản chấm dứt.
Cuộc nổi dậy của Nông Văn Vân diễn ra không dài (khoảng 3 năm) nhưng làm cho nhà Nguyễn phải đối phó rất vất vả. Cao Bằng là một trong những địa phương chứng kiến những sự kiện lớn liên quan đến cuộc nổi dậy và dân chúng các dân tộc Cao Bằng cũng đã tham gia vào đội quân nổi dậy với một lực lượng không nhỏ. Điều này đã được chính sử nhà Nguyễn thừa nhận.
Hồng Viễn



