Bài viết

Nông Văn Việt

Đồng chí Nông Văn Việt, dân tộc Tày, sinh năm 1938 trong một gia đình nông dân tại xã Phong Châu (Trùng Khánh). Nông Văn Việt sớm giác ngộ cách mạng. Năm 16 tuổi, đồng chí hăng hái tham gia các hoạt động ở địa phương, là tổ trưởng thanh niên, tích cực trong công tác dân quân, trật tự trị an và phong trào bình dân học vụ. Là một thanh niên hoạt động nhiệt tình, năng nổ, sẵn sàng giúp đỡ mọi người, đồng chí nhiều lần được chính quyền, đoàn thể khen ngợi.

Đồng Tháp21/05/2026Lê Chí Thanh2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đồng chí Nông Văn Việt, dân tộc Tày, sinh năm 1938 trong một gia đình nông dân tại xã Phong Châu (Trùng Khánh). Nông Văn Việt sớm giác ngộ cách mạng. Năm 16 tuổi, đồng chí hăng hái tham gia các hoạt động ở địa phương, là tổ trưởng thanh niên, tích cực trong công tác dân quân, trật tự trị an và phong trào bình dân học vụ. Là một thanh niên hoạt động nhiệt tình, năng nổ, sẵn sàng giúp đỡ mọi người, đồng chí nhiều lần được chính quyền, đoàn thể khen ngợi.

Tháng 3/1959, đồng chí Việt làm công nhân Mỏ thiếc Tĩnh Túc, vùng công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản lớn của tỉnh Cao Bằng, đông đảo kỹ sư và công nhân tập trung làm việc tại đây. Hưởng ứng phong trào thi đua 3 tốt: sản xuất tốt, công tác tốt và đoàn kết tương trợ tốt, đồng chí nỗ lực phấn đấu cải tiến kỹ thuật nâng cao năng suất lao động, trong ba năm liên tiếp là cá nhân điển hình của đơn vị, góp phần xây dựng tổ sản xuất thành Tổ lao động xã hội chủ nghĩa.Đầu những năm 60 của thế kỷ XX, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở miền Nam lên cao, đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược chiến tranh đặc biệt, ra sức khủng bố, kìm kẹp nhằm bình định miền Nam trong 18 tháng; lớp lớp thanh niên cả nước lên đường nhập ngũ. Năm 1962, đồng chí tình nguyện tòng quân; kết thúc thời gian huấn luyện tân binh, đồng chí được biên chế vào Đại đội 6, Tiểu đoàn 2, đơn vị thuộc binh chủng công binh Sư đoàn 7. Là người ham học hỏi, để hiểu biết và nắm vững các loại vũ khí sát thương bom, mìn của địch, đồng chí chịu khó học tập, tìm tòi, nghiên cứu thử nghiệm cách tháo gỡ các loại bom nổ chậm.Vào thời điểm ấy, đồng chí là người đầu tiên dũng cảm, mưu trí, không quản khó khăn, quên mình đến với những nơi nguy hiểm nhất phá bom nổ chậm, tránh được nguy cơ sát thương cho đồng đội, lái xe, thanh niên xung phong hỏa tuyến, đồng bào và các lực lượng vũ trang của ta, làm thông đường, thông tuyến, đảm bảo giao thông thông suốt, góp phần đưa từng chuyến hàng chi viện từ Bắc vào Nam đến nơi tập kết.Ngày 7/2/1965, lần đầu tiên đế quốc Mỹ thả bom bi xuống vùng Nậm Mật, thuộc chiến trường nước bạn Lào, gây nên thương vong lớn; bộ đội và nhân dân địa phương chưa hiểu gì về loại vũ khí sát thương nguy hiểm này. Với những thành tích khởi đầu có sức thuyết phục, Tiểu đoàn tin tưởng giao cho đồng chí nghiên cứu cách rà phá bom bi. Mặc dù chưa có kiến thức nhận biết về loại bom bi này, nhưng với lòng quả cảm, tự tin ở bản thân, xác định rõ đây là vấn đề hệ trọng, cấp bách, rất cần tháo gỡ, đồng đội đang trông chờ vào mình, đồng chí phấn khởi, quyết tâm nhận nhiệm vụ.Mới đầu thử nghiệm, đồng chí lấy dây thép gai của đồn địch buộc thành túm rồi chà đi, chà lại trên mặt bom bi mà nó vẫn ngoan cố không chịu nổ. Đồng chí mạnh dạn cầm quả bom bi chưa nổ để nghiên cứu, xem xét một cách thận trọng, tỉ mỉ. Qua nhiều lần tìm hiểu, đồng chí rút ra kết luận: bom bi có ba vạch chạm mạnh, đụng vào kim hỏa thì mới nổ và có thể tháo ra được. Đồng chí đem hai quả bom ra bìa rừng, nơi vắng người qua lại mạnh dạn tháo thử, nếu gặp chuyện không may thì không ảnh hưởng tới ai. Sự kiên trì, thông minh, sáng tạo giúp đồng chí thành công trong việc nắm bắt được tính năng, tác dụng, cấu tạo của bom bi, cách tháo gỡ an toàn. Ngay lập tức, những vấn đề đó được phổ biến cho đồng đội, các đơn vị bạn và trong nhân dân. Từ đó, kiểm soát được loại bom này, làm hạn chế tối thiểu mức độ gây hại của nó, đảm bảo an toàn giao thông và sản xuất trở lại bình thường.Một lần khác, địch rải hơn 100 quả bom loại vừa nổ ngay và vừa nổ chậm xuống vùng Huội Khiến, công việc làm đường phải dừng lại, đoàn xe bị ùn tắc kéo dài. Đồng chí phụ trách một tổ ba người dũng cảm lao vào phá bom nổ chậm nhưng do không được quan sát từ trước, nên các đồng chí không nắm được vị trí của từng quả bom nổ chậm, rất khó đảm bảo an toàn. Ngay tối hôm đó, đồng chí trực tiếp theo dõi bom nổ, phán đoán được giờ an toàn. Sáng hôm sau, đồng chí dẫn đồng đội vào trinh sát, nắm thực trạng nơi có bom nổ chậm và phân định khu vực an toàn, báo cáo cấp trên cho tiến hành tiếp công việc.Có những quả bom nằm sâu trong lòng đất, đồng chí chui xuống rà từng quả bom và tự mình đem bộc phá xuống phá. Đối diện với bom nổ chậm, trong khi chúng ta chưa hiểu hết về từng loại, ranh giới giữa sự sống và cái chết rất mong manh, đồng đội như nghẹt thở khi quan sát đồng chí phá bom. Song, với tinh thần gan dạ, mưu trí, dũng cảm, tất cả vì miền Nam ruột thịt, đồng chí cùng tổ phá bom hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, “giải phóng” toàn bộ khu vực có bom nổ chậm, đảm bảo giao thông thông suốt, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị vào Nam chiến đấu. Ba năm liền (1963 - 1965), đồng chí đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua; năm 1966 đạt danh hiệu Chiến sĩ Quyết thắng trên chiến trường.Với những thành tích nổi bật đó, ngày 1/1/1967, đồng chí vinh dự được Quốc hội tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng ba và tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, khi đó đồng chí là Thượng sĩ, Trung đội trưởng thuộc Đại đội 6, Tiểu đoàn 2, Sư đoàn 7, Quân đội nhân dân Việt Nam.Là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, phát huy thành tích đã đạt được, Anh hùng Nông Văn Việt luôn phấn đấu, nêu cao tinh thần trách nhiệm, không ngừng nỗ lực hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Quá trình chiến đấu, xây dựng và trưởng thành trong quân ngũ, đồng chí trải qua các chức vụ: Đại đội trưởng, Tiểu đoàn trưởng, Trưởng Ban kỹ thuật Công binh Quân khu 1; Trung đoàn phó, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 522; Thượng tá, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự huyện Trà Lĩnh. Năm 1993, đồng chí nghỉ hưu theo chế độ.Quá trình cống hiến và công tác trong Quân đội, đồng chí vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất và nhiều danh hiệu cao quý khác.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn