NỐT TRẦM CỦA MỘT ĐỜI HOA Ở KHÁNH AN
Làm thế nào để người ta không đau, làm thế nào để người ta không thương trước hình ảnh một người phụ nữ, một người vợ dù rất yêu, rất thương, rất nhớ chồng mình nhưng không thể nào đối diện được với khuôn mặt của người bạn đời bị chiến tranh làm cho biến dạng. Đọc lại những dòng thư mà Liệt sĩ Lê Văn Huỳnh từng gửi vợ từ chiến trường Quảng Trị khói lửa: "Mình là vợ chồng, anh đi chiến đấu, sau này ngộ nhỡ anh trở về không lành lặn, xin em đừng hắt hủi anh em nhé!", ta mới thấu cái bi kịch của thời đại ấy lớn đến nhường nào. Chiến tranh chưa bao giờ là những con số khô khan trên trang giấy lịch sử. Nó là sự xé rách tận cùng của da thịt, là những cuộc chia ly vĩnh viễn không ngày gặp lại, và để lại ở phía sau lưng những khoảng trống mênh mông đến quặn thắt cõi lòng.
Giữa bộn bề cuộc sống hôm nay, khi bước chân qua thôn Khánh An (xã Thái Hoà, tỉnh Tuyên Quang), lắng nghe câu chuyện về bà Đào Thị Nụ – người vợ của liệt sĩ Nguyễn Văn Bẩy, chúng ta bỗng chạm thấu một nốt trầm đau đớn mà hào hùng của thời hoa lửa.
Thời của ông bà, tình yêu đôi lứa bao giờ cũng gắn liền với tiếng gầm rú của đạn bom và những ngã ba đường ngập nắng gió tòng quân. Khi đất nước gọi tên, anh thanh niên Nguyễn Văn Bẩy đã gác lại tình riêng, xếp lại những dự cảm tương lai để bước ra chiến trường, mang theo cả bóng hình của người vợ trẻ Đào Thị Nụ ở quê nhà.
Họ yêu nhau bằng thứ tình cảm mộc mạc, sắt son của những người con xứ Đoài, xứ Bắc một nắng hai sương. Ngày tiễn chồng đi, tiếng kẻng báo động, tiếng xe lăn bánh và cái nắm tay vội vã qua làn khói súng cứa vào lòng người ở lại một nỗi niềm canh cánh. Chẳng ai nghĩ đó là lần cuối cùng họ nhìn thấy nhau trọn vẹn. Chiến tranh cứ thế cuốn đi những thanh âm đẹp đẽ nhất của tuổi trẻ, để lại nơi hậu phương một người phụ nữ mỏi mòn đếm nhịp thời gian qua những mùa hoa gạo đỏ rực rồi tàn úa.
Ngày ấy, tin báo tử về, bầu trời như sụp đổ dưới chân người phụ nữ trẻ. Thời thanh xuân của bà Nụ khép lại đột ngột trong tiếng nấc nghẹn ngào tủi hờn của định mệnh. Nếu như trong tiểu thuyết “Bến không chồng” của Dương Hướng, người ta ám ảnh bởi nỗi đau thể xác và tinh thần của nhân vật, thì ở đời thực của bà Nụ, nỗi đau ấy được bọc kín lại bằng sự nhẫn nại đến nghẹn lòng.
Một mình ở vậy thờ chồng, nuôi nấng những giọt máu thắt ruột qua cơn đói khát, qua những mùa giông bão của thời bao cấp thiếu thốn trăm bề, bà Nụ đã đi qua phần đời còn lại của mình trong lặng lẽ. Người ta nhớ đến bà không chỉ bởi sự hy sinh thầm lặng, mà còn bởi ánh mắt xa xăm mỗi khi chiều xuống, hướng về phía cuối làng như đang đợi một chuyến tàu hay một bóng hình mãi mãi chẳng bao giờ trở lại.
Thời gian bào mòn đi thanh xuân, để lại trên đôi bàn tay bà những vết chai sần, trên khóe mắt những nếp nhăn hằn sâu năm tháng. Nhưng có lẽ, vết thương lớn nhất không nằm ở thời gian, mà nằm ở sự thật khắc nghiệt: người chồng yêu dấu của bà đã vĩnh viễn nằm lại lòng đất mẹ, hóa thân vào dáng hình sông núi để đổi lấy thanh bình cho hôm nay.
Chiến tranh đã lùi xa vào dĩ vãng, nhưng những chứng nhân sống như bà Đào Thị Nụ ở thôn Khánh An vẫn là những "tượng đài" bằng xương bằng thịt nhắc nhở thế hệ trẻ chúng ta về giá trị của hai chữ “Hòa bình”.
Nhìn lại để thấy rằng, chúng ta hôm nay được ngồi trong những giảng đường sáng ánh điện, được tự do ôm ấp những hoài bão lớn lao của tuổi trẻ... là sự đánh đổi bằng máu xương, bằng tuổi thanh xuân dở dang và cả những giọt nước mắt âm thầm nuốt vào trong của hàng triệu người vợ, người mẹ như thế.
Thế hệ trẻ Đoàn Thanh niên xã Thái Hoà, những người đang sống trong trọn vẹn yên bình, xin được cúi đầu tri ân sâu sắc trước sự hy sinh của liệt sĩ Nguyễn Văn Bẩy và nỗi đau thầm lặng mà cao cả của bà Đào Thị Nụ. Câu chuyện của thời hoa lửa ấy sẽ mãi là ngọn lửa thiêng nhắc nhở chúng ta sống đẹp hơn, sống có trách nhiệm hơn, để không hổ thẹn với quá khứ, không hổ thẹn với những mảnh đời đã trầm mình cho đất nước nở hoa.



