Bài viết

NỮ ANH HÙNG ĐẦU TIÊN CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM, UY VIỄN ĐÔNG NHUNG ĐẠI TƯỚNG QUÂN VŨ THỊ THỤC NƯƠNG TRONG ĐẠI KHỞI NGHĨA HAI BÀ TRƯNG.

NỮ ANH HÙNG ĐẦU TIÊN CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM, UY VIỄN ĐÔNG NHUNG ĐẠI TƯỚNG QUÂN VŨ THỊ THỤC NƯƠNG TRONG ĐẠI KHỞI NGHĨA HAI BÀ TRƯNG.

Hưng Yên30/12/2025Ban Biên tập tổng hợp5 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sự nghiệp: Vũ Thị Thục Nương là Nữ Tướng văn võ song toàn, chí khí rất lớn. Bà đã dấy binh khởi nghĩa trước Hai Bà Trưng. Sau này khi Hai Bà Trưng truyền hịch khởi nghĩa có cho sứ giả về mời Bà Vũ Thị Thục Nương. Bà nhận tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng và được Hai Bà Trưng giao cho quyền đứng đầu, thống lĩnh các Vị Nữ Tướng của Hai Bà Trưng. Ngày 17/3 năm Quý Mão (năm 43 sau Công Nguyên) trong trận chiến cuối cùng chống Mã Viện thống lĩnh hàng chục vạn quân Đông Hán, Bà và các nữ binh đã quyết chiến đến cùng không để giặc bắt và tử tiết.

Bà là con gái Nhà giáo Vũ Công Chất, ông còn là thầy thuốc, ngày nay ở Phú Thọ có đền thờ ông là một trong những thầy giáo Việt dậy chữ Khoa Đẩu là chữ Việt cổ thời bấy giờ. Chi họ Vũ Công vốn định cư ở tả ngạn sông Lô mà dấu tích, thư tịch cổ còn ghi Thủy Tổ họ Vũ gốc Việt Thường là các Cụ Vũ Công Bách – Cao Minh Đại Vương và Vũ Công Điền – Cao Sơn Đại Vương. Hai Cụ là bậc Thượng đẳng Phúc Thánh được thờ ở khắp nước Việt Nam. Cao Sơn Đại vương Vũ Công Điền chính là Đức Tản Viên Sơn Thánh (Sắc phong Thần thời Lê Trung Hưng – Thư viện Viễn Đông Bắc cổ). Sau Chi Họ Vũ Công dời sang cư trú ở hữu ngạn sông Lô đối diện quê cũ. Tại đây, các đời tiếp theo có Nhà giáo thầy thuốc Vũ Công Chất. Mẹ bà Thục Nương là Bà Hoàng thị Mầu, cả hai vợ chồng thân sinh ra Bà Thục Nương đều là người gốc Việt Thường. Sinh thời Bà Vũ Thị Thục Nương là một người phụ nữ có nhan sắc tuyệt vời, đoan trang, trung hậu, đảm đang, văn hay võ giỏi nên hiệu là Ngọc Hoa Công chúa. Từ nhỏ, Bà vừa học nghề thuốc, luyện võ và đi chữa bệnh trong dân gian do hai Cụ Thân sinh truyền dậy. Khi 16 tuổi, Bà còn dậy dân phát triển nghề Nông, sáng tác những bài hát dân ca và truyền dậy hát đối, hát xoan, hát đúm vẫn còn truyền lại đến nay ở vùng Phú Thọ, Vĩnh Phúc.

Bà cùng với hai Cụ Thân sinh còn chỉ bảo dân thời ấy quần tụ lại để xây dựng, phát triển Xã - Thôn Việt trong vùng Phong Châu từ những năm đầu thế kỷ I sau Công Nguyên.

Thời ấy, bên kia sông Bạch Hạc ở xã Nam Chân có chàng trai rất có tài đức là Phạm Danh Hương, vào cuối mùa thu năm Quý Tỵ (năm 33 sau Công Nguyên), đã đặt lễ Nạp Thái (Lễ Chạm ngõ) được hai Thân sinh và Bà nhận lời, theo Lễ là 6 tháng nên chờ đến đầu mùa Thu năm Giáp Ngọ (năm 34 sau CN) thì làm lễ Thân Nghinh (Lễ rước dâu). Năm ấy, Bà vừa 17 tuổi. Không may, liền bên Châu Bạch Hạc có một Quan lang giầu sang quyền thế nhất vùng đã nhiều lần mang lễ vật lớn xin cưới Bà đều bị từ chối, khi biết ông bà Vũ Công Chất và Hoàng thị Mầu cùng Bà Thục Nương đã nhận lễ với Phạm Danh Hương, Quan lang Bạch Hạc vô cùng tức giận liền súc siểm, bầy mưu xui Tô Định vừa nhận chức Thái Thú để chiếm đoạt Bà. Tô Định được mưu, bèn giả làm khách buôn đến tận nơi chiêm ngưỡng dung nhan Bà thấy như Tiên Nữ giáng trần, khi trở về quân doanh liền sai tướng đem quân bắt Cha Bà - ông Vũ Công Chất và chồng chưa cưới là Phạm Danh Hương tới trị sở Giao Châu bắt phải từ hôn và dâng Bà cho Tô Định. Dụ dỗ hàng tháng trời không được, Tô Định đã dùng cực hình ép buộc cũng không được nên đã giết cả hai người. Tô Định thân cầm quân tới vây bắt Bà. Được tai mắt dân ở Châu Bạch Hạc báo tin, đang đêm cả hai mẹ con trốn chạy rồi thất lạc. Bà cầm kiếm phá vây, chạy thoát ra bờ sông Bạch Hạc, nhẩy xuống được thuyền độc mộc, tay chèo, tay kiếm xuôi dòng sông Nhị Hà (sông Hồng) mà về đến vùng đất ven biển lúc đó (nay là huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình) thì men theo nhánh sông nhỏ (nay là sông Luộc) mà vào.

Thời kỳ này nước biển đã rút nhưng vùng đất của tỉnh Thái Bình vẫn còn là vùng đất nước lợ với những cánh rừng lớn bạt ngàn và ven biển là rừng sú, vẹt rất hiểm trở nên chưa bị quân Đông Hán chiếm đóng. Bà chèo thuyền theo nhánh sông Luộc vào sâu đến đất Tiên La thì dừng lại lên bờ vào ẩn náu làm tiểu đồng trong chùa Tiên La. Ngày ngày quét dọn sân chùa, đêm đêm luyện võ. Khi đã quen với lương dân vùng Tiên La, Bà vừa dậy học, vừa dùng thuốc Nam chữa bệnh cho dân. Được dân mến mộ, Bà dậy dân trồng trọt, chăn nuôi,… như thế đến năm Bính Thân (năm 36 sau CN) thì cho người tin cẩn tìm đón được mẹ Bà về Tiên La phụng dưỡng. Sau mấy năm, Tiên La trở thành vùng trù phú, dân Việt khắp nơi về cư ngụ, khai khẩn đất hoang, đào kênh từ sông Luộc để dẫn nước ngọt về trồng lúa, các đời sau khai phá thêm chỗ rộng, chỗ hẹp, được Dân gian đặt tên là sông Tiên Hưng (Vì Bà được dân tôn thờ là bậc Tiên Thánh đã khởi phát Hưng thịnh cho dân) nay di tích vẫn còn trước Đền Tiên La. Thấy dân đã đông, lòng người đã thuận, mùa Xuân, tháng Giêng năm Đinh Dậu (năm 37 sau CN) Bà dựng cờ khởi nghĩa trên gò Kim Quy. Nghe lời hiệu triệu của Bà, người Việt khắp nơi đã nô nức kéo về theo Bà. Sau hơn một trăm năm Bắc thuộc, chính sách Hán hóa đã làm cho số dân là nam giới trong người Việt sụt giảm, vì thế binh sỹ của Bà tuyển chọn cũng toàn là con gái, vừa luyện tập binh pháp, vừa trồng trọt chăn nuôi để có lương cho quân trở nên đội quân rất tinh nhuệ. Nam giới được tập hợp rèn, sửa vũ khí và quân trang. Binh khí tấn công, phòng thủ là nỏ Liên châu có giá đỡ, để tấn công trong vùng rừng rậm dùng nỏ cầm tay, đoản đao, lao, mác, qua,… có tra cán bằng đồng, lưỡi sắt. Quân trang có giáp che ngực bằng đồng và mũ trụ đồng hay mây đan. Bà còn cho người về vùng núi cao bộ Tân Hưng, một trong 15 bộ của nướcVăn Lang(Đầu thế kỷ 15, đổi gọi là huyện Bình Nguyên, sau đổi thành châu Bình Nguyên từ năm 1473, sau lại đổi tên thành châu Vị Xuyên. Địa danh Hà Giang lần đầu tiên được nhắc đến trong bài minh khắc trên chuông chùa Sùng Khánh (xã Đạo Đức, Vị Xuyên), được đúc nhân dịp trùng tu chùa vào đầu thời vua Lê Dụ Tông, năm Ất Dậu 1707. Năm 1895, ranh giới Hà Giang được ấn định lại như trên bản đồ ngày nay.

Ngày 20 tháng 8 năm 1891 Toàn quyền Đông Dương Jean-Marie de Lanessan đã quyết định thành lập tỉnh Hà Giang, bao gồm phủ Tường Yên và huyện Vĩnh Tuy, tên tỉnh Hà Giang được giữ đến ngày nay. Hà Giang núi non hùng vĩ, có đỉnh Tây Côn Lĩnh cao 2419 m và đỉnh Kiều Liêu Ti cao 2402m, khí hậu cận nhiệt đới ẩm nhưng do địa hình cao nên khí hậu Hà Giang mang nhiều sắc thái ôn đới. Vùng cao núi đất phía tây thuộc khối núi thượng nguồn sông Chảy, sườn núi dốc, đèo cao, thung lũng và lòng suối hẹp) để chọn mua ngựa chiến thuần chủng Việt quý, nuôi dễ, ăn kham khổ.

Bà cho chọn ngựa Việt chỉ có một sắc lông gọi là Ô, Ly mầu đen, Phiêu mầu xanh trắng, Tinh là mầu hồng có thân dài, mông to, bụng thon, ức nở, hình cao, gân to, thịt săn, chân thẳng thon chắc, răng trắng đều, bờm dày, lông đều, sờ vào mượt như nhung lụa, đặc biệt là chân dài, nở, thẳng, móng đen phi nước kiệu rất nhanh trên đường bằng, leo núi trèo đèo hiểm trở rất thiện nghệ, phi nước đại nhanh như gió lốc (Giống ngựa Việt này rất nổi tiếng trong thồ hàng, chiến trận. Sau này còn được truyền tụng như con ngựa Song Vỹ Hồng của Lý Thường Kiệt và con Nê Thông của vua Trần Duệ Tông – Ngựa Việt quý của Hà Giang nay vẫn được bảo tồn). Bà chọn một con ngựa chiến đen tuyền cổ cao, ngực nở, bụng thon, có khoáy ở 4 chân và một khoáy giữa đỉnh đầu để ra trận. Đội quân Nữ binh của Bà có đội kỵ binh dùng giáp mây che ngựa, đội bộ binh dùng khiên mây, giáo, qua, đoản kiếm và đội tên nỏ.

Mẹ Bà là Hoàng Thị Mầu cũng ở trong quân lo việc phân phát binh lương và chữa bệnh, chữa thương cho tướng sỹ. Vừa chiêu binh mãi mã, vừa dậy dân khai khẩn đất hoang,.... chỉ mấy năm Tiên La trở thành một vùng trù phú, binh lực ngày một mạnh. Bà cầm quân tiến đánh quân Đông Hán, mở rộng vùng tự trị của người Việt ngày một rộng lớn sang đến huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình, các huyện Ninh Giang, Thanh Miện tỉnh Hải Dương, Tiên Lữ, Phủ Cừ tỉnh Hưng Yên ngày nay.

Nhiều lần quân Đông Hán kéo quân sang đánh đều bị đội quân Nữ binh tinh nhuệ do Bà thống lĩnh đánh cho thua trận rút chạy khỏi các vùng đất của người Việt.

Tô Định ngày càng bạo ngược, chính trị tàn ác, dân Việt đã oán giận chồng chất. Năm Kỷ Hợi (năm 39 sau CN, Nhà Đông Hán, vua Quang Vũ Lưu Tú, năm Kiến Vũ thứ 15) Tô Định lại giết Thi Sách Quận Châu Diên, Phủ Vĩnh Tường (nay là Vĩnh Yên). Vợ Thi Sách là Trưng Trắc (quê ở làng Hạ Lôi, huyện Yên Lãng, tỉnh Phúc Yên) là con gái Lạc Tướng Mê Linh cùng với em là Trưng Nhị cất quân khởi nghĩa. Hai Bà Trưng cho sứ giả sang mời Bà hội quân cùng đánh Tô Định.

Bà Vũ Thị Thục Nương cùng đội Nữ binh hưởng ứng, cùng các Nữ tướng của Hai Bà Trưng đánh bại quan quân Đông Hán. Tô Định chạy thoát về Quảng Châu. Bà Vũ Thị Thục Nương đã cùng các Nữ Tướng khác trong đội quân của Hai Bà Trưng giải phóng cả một vùng duyên hải của Giao chỉ Bộ (gồm miền Bắc Việt Nam, vùng Lưỡng Quảng và quận Hải Nam bây giờ). Chỉ trong năm Kỷ Hợi (39 sau CN) đến mùa xuân năm Canh Tý (40 sau CN), Tất cả dân Việt cùng đại quân của Hai Bà Trưng hạ được 65 thành trì, quan quân Đông Hán phải bỏ chạy qua sông Trường Giang về phương Bắc.

Sau khi đã giành lại bờ cõi, Hai Bà Trưng lên ngôi xưng là Trưng Nữ Vương lấy quốc hiệu là Đại Việt. Trưng Nữ Vương xác lập quyền tự chủ của người Việt, chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất. Trưng Nữ Vương xét công trạng có phong cho Bà Vũ thị Thục Nương làm Uy Viễn Đông Nhung Đại Tướng quân - xếp hạng công đầu. Nhưng Bà xin trả lại quan ấn cùng với đội Nữ Binh trở về Tiên La, Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (Thời Hùng Vương là Bộ Lục Hải, đời Tần thuộc Tượng Quận, đời Hán thuộc Giao Chỉ) vừa rèn quân lại vừa làm ruộng và chăn nuôi. Tại Tiên La, Bà tiếp tục chữa bệnh cho dân bằng thuốc Nam.

Năm Tân Sửu (năm 41 sau CN) vua Quang Vũ nhà Đông Hán lại sai Mã Viện là danh tướng lúc bấy giờ làm Phục Ba Tướng quân, Phó tướng là Phù Lạc hầu Lưu Long, cùng với Lâu thuyền Tướng quân là Đoàn Chí kéo mấy chục vạn quân tinh nhuệ chia làm hai đường thủy, bộ sang đánh nước Đại Việt của Trưng Nữ Vương. Ngay khi cánh quân bộ của Đông Hán do Phó Tướng Lưu Long vượt sông Trường Giang tiến về phía Nam đã bị đội Tiền quân Việt do Nữ Tướng Phật Nguyệt đón đánh dữ dội. Phật Nguyệt Công chúa được Trưng Vương phong giữ chức Thao Giang Thượng Tả Tướng thuỷ quân, Chinh Bắc Đại tướng quân, Tổng trấn Động đình và Trường Sa.

Bà Vũ Thị Thục Nương lúc đó là Đốc lĩnh toàn quân trấn giữ Giao Chỉ (Vùng miền Bắc đến miền Trung Việt Nam ngày nay) đã cùng các nữ tướng của Hai Bà Trưng chia quân đón đánh quân Đông Hán. Nhưng thế quân Đông Hán quá lớn, sau nhiều tháng giao tranh, các cánh quân Hai Bà Trưng lần lượt tan vỡ. Hai Bà Trưng chạy về đến xã Hát Môn thuộc huyện Phúc Lộc tỉnh Sơn Tây thì thế bức quá, Hai Bà Trưng gieo mình xuống sông tự tận.

Khi Bà chạy về căn cứ đến Gò Kim Quy (bây giờ chính là nơi dựng đền Tiên La, nay là thôn Tiên La nơi có địa giới giáp danh hai xã Đoan Hùng và Tân Tiến, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình), người và ngựa đều kiệt sức. Mình đầy thương tích, Bà xuống ngựa rồi tự vẫn không để giặc bắt. Dân quá xót thương chôn giấu thi hài của Bà cùng ngựa chiến Ô Long tại gò Kim quy rồi xóa hết dấu tích không cho giặc biết. Giặc truy lùng gắt gao nhiều tháng nhưng không tìm được phải rút hết. Sau khi giặc đã đi xa, Dân dựng một đền thờ bằng tranh tre trên mộ Bà, nhiều đời sau mới thay bằng gỗ và đá. Gương tiên liệt trung trinh của Bà được loan truyền khắp trong dân Việt lúc bấy giờ, bởi vậy gần hết các Nữ Tướng còn lại của Hai Bà Trưng cũng đều noi gương ấy mà tự vẫn khi đang lẩn trốn không để cho giặc Đông Hán bắt.

Công đức của Bà sâu dầy, uy linh hiển hách đến mức Bà được dân Việt tôn thờ là Thượng Đẳng Phúc Thánh, Tối linh, Tối cao. Tương truyền trong tâm linh người Việt Nam là Bà hiển linh kiêm cả ba ngôi vị Thánh Mẫu Thượng Thiên, Thánh Mẫu Thượng Ngàn, Thánh Mẫu Thoải Phủ trong trong Đạo Thánh Mẫu Việt Nam. Những nơi đặt đền thờ Bà, dân chúng đều được yên bình. Vì thế mà lịch sử của Bà rõ và chi tiết. Sau khi Bà Vũ Thị Thục Nương tử tiết hiển linh, nhân dân nhớ thương Bà đã lập đền thờ chính của Bà tại xã Tiên La, Huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, đến nay đã trải qua gần 2000 năm khói hương không bao giờ dứt.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn