Bài viết

NỮ ANH HÙNG TRẦN THỊ QUANG MẪN (MƯỜI MẪN)

sưu tầm

An Giang10/04/2026Đoàn xã Thạnh Đông (Đoàn xã Thạnh Đông)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, khi bom đạn phủ kín bầu trời và sự sống mong manh như ngọn đèn trước gió vùng đất Giồng Riềng, Kiên Giang nay thuộc huyện Giồng Riềng tỉnh An Giang vẫn kiên cường đứng vững. Nơi đây đã sản sinh ra biết bao con người anh dũng, trong đó có nữ anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Trần Thị Quang Mẫn, thường gọi thân thương là Mười Mẫn.


Trần Thị Quang Mẫn (1926–2021) là một nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và Bà mẹ Việt Nam anh hùng tiêu biểu của tỉnh Kiên Giang. Bà nổi danh với biệt danh "Nữ chúa miền Tây" và câu chuyện huyền thoại cải trang thành nam giới để đi bộ đội đánh giặc. Bà nổi tiếng với nhiều giai thoại trong thời kỳ chiến tranh, đặc biệt là vụ ám sát bằng dao bất thành Thiếu tá Lâm Quang Phòng, Chi khu trưởng kiêm quận trưởng An Phước, năm 1958.

Bà tên thật là Trần Thị Mẫn sinh ngày 20 tháng 6 năm 1926 trong một gia đình khá giả tại làng Thạnh Hòa, tổng Giang Ninh, quận Giồng Riềng, tỉnh Rạch Giá (nay thuộc xã Vĩnh Thạnh, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang). Bà là con thứ 5 trong gia đình, nên còn được gọi là Sáu Mẫn theo thông lệ miền Nam.

Thuở thiếu niên, bà có tiếng nghịch ngợm, cá tính mạnh mẽ như nam nhi. Do điều kiện gia đình, bà được tạo điều kiện học hành. Ngoài ra, bà còn học thêm võ thuật. Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất giàu truyền thống cách mạng, bà sớm chứng kiến cảnh quê hương bị giày xéo bởi chiến tranh. Chính những mất mát, đau thương đó đã hun đúc trong bà lòng căm thù giặc sâu sắc và ý chí đứng lên chiến đấu. Từ một người phụ nữ bình dị, bà trở thành một chiến sĩ cách mạng gan dạ, mưu trí.

Năm 1945, Việt Nam giành được độc lập, không lâu sau thì Pháp đổ quân tái chiếm Nam Bộ. Bất chấp sự ngăn cản của gia đình, bà cùng người em gái kế là Bảy Trâm trốn nhà để tham gia quân đội. Do mong ước được tham gia chiến đấu, bà tìm cách giả trai, lấy tên là Trần Quang Mẫn, để được tham gia vào đơn vị bộ đội chủ lực. Năm 1946, bà trở thành đội viên Vệ quốc đoàn thuộc trung đội 1, đại đội 70, chi đội 124 của Bộ đội Huỳnh Thủ, hoạt động ở Vĩnh Thuận (vùng U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang). Do thành tích chiến đấu, đến năm 1950, bà được đề bạt làm Đại đội trưởng.

Thân phận nữ nhi của bà bị bại lộ do người chồng tương lai mà gia đình bà đã hứa hôn đến đơn vị đòi cưới. Sau khi cưới, vợ chồng bà tiếp tục tham gia chiến đấu ở các chiến trường khác nhau. Năm 1952, bà mang thai, khi sắp đến ngày sinh, bà rời đơn vị, về nhà cha mẹ để chuẩn bị sinh nở. Tuy nhiên, sau đó bà nhận được tin chồng bà đã hy sinh khi đánh đồn Chàng Chẹt.

Năm 1954, bà được chỉ thị không tham gia tập kết, mà bí mật ở lại địa phương, làm phó bí thư chi bộ xã Thạnh Hòa, huyện Giồng Riềng, tỉnh Rạch Giá. Tháng 1 năm 1956, bà tham gia "Đội bảo vệ hòa bình", một tổ chức vũ trang bí mật của Liên tỉnh ủy Miền Tây. Tháng 11 năm 1957, bà được phân về Đại đội 2 an ninh vũ trang (mật danh là Tiểu đoàn Ngô Văn Sở) chuyên trách công tác ám sát các sĩ quan, quan chức Việt Nam Cộng hòa ở vùng Nam Cà Mau.

Giữa năm 1958, bà nhận lệnh của cấp trên về việc ám sát Thiếu tá Lâm Quang Phòng, Chi khu trưởng kiêm quận trưởng An Phước. Đêm 19 tháng 7 năm 1958, bà dùng một chiếc dao phay bén chém trọng thương Thiếu tá Phòng khi ông này đang ngủ. Tuy nhiên, ông Phòng chỉ bị trọng thương, còn bà bị các vệ sĩ của ông Phòng bắt được. Bà bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa kết án 12 năm khổ sai, 5 năm biệt xứ, nhưng giảm xuống còn 7 năm tù khổ sai, 5 năm biệt xứ. Bà được trả tự do cuối năm 1966.

Sau khi được chính quyền Việt Nam Cộng hòa trả tự do, bà được tổ chức bí mật đưa căn cứ. Năm 1967, bà được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang giải phóng, được tham gia đoàn Dũng sĩ miền Nam ra Bắc và được tiếp kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sau khi trở lại miền Nam, bà được phân công công tác chính trị trong Quân khu 9 cho đến khi nghỉ hưu theo chế độ với quân hàm Thiếu tá.

Năm 1994, bà được trao tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng do có chồng và con trai duy nhất hy sinh trong kháng chiến.


Bà qua đời vào ngày 23 tháng 3 năm 2021 tại Thành phố Hồ Chí Minh, không lâu sau lễ mừng thọ 95 tuổi.

Trong những trận càn quét ác liệt, bà đã cùng đồng đội kiên cường bám trụ, chiến đấu đến cùng để bảo vệ căn cứ. Dù đối mặt với hiểm nguy, bà vẫn không lùi bước. Tinh thần “còn người còn đất” của bà đã trở thành biểu tượng cho ý chí quật cường của phụ nữ miền Nam thời chiến.

Không chỉ là một chiến sĩ, Mười Mẫn còn là người truyền lửa. Bà động viên nhân dân, nhất là phụ nữ và thanh niên, tham gia kháng chiến, góp phần xây dựng thế trận lòng dân vững chắc. Chính sự hy sinh thầm lặng nhưng to lớn ấy đã góp phần làm nên chiến thắng chung của dân tộc.


Sau ngày đất nước thống nhất, tên tuổi của bà được nhắc đến như một biểu tượng của lòng yêu nước và sự hy sinh cao cả. Bà được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý – Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, ghi nhận những đóng góp to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Câu chuyện về Mười Mẫn không chỉ là ký ức của một thời “hoa lửa”, mà còn là bài học quý giá cho thế hệ hôm nay. Đó là bài học về lòng yêu nước, sự kiên cường, và tinh thần trách nhiệm với quê hương.

Giữa cuộc sống hòa bình hôm nay, khi nhìn lại quá khứ, chúng ta càng thêm trân trọng những hy sinh của thế hệ đi trước. Và câu chuyện về nữ anh hùng Trần Thị Quang Mẫn sẽ mãi là ngọn lửa truyền cảm hứng, thắp sáng niềm tự hào và ý chí vươn lên cho các thế hệ mai sau.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn