Bài viết

Nữ Anh hùng Y Buông

Nữ Anh hùng Y Buông sinh năm 1946, là người dân tộc Xơ Đăng, xã Đắk La, huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum (nay là tỉnh Quảng Ngãi), nhập ngũ tháng 3-1960. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, Trung đội phó nuôi quân, Đại đội 1, Tiểu đoàn 304 bộ đội địa phương tỉnh Kon Tum.

Quảng Ngãi12/08/2026Xã Thiện Tín (Đoàn xã Thiện Tín)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Y Buông tham gia phục vụ cách mạng từ khi còn nhỏ. Năm 13 tuổi, Y Buông đã làm liên lạc đưa đường cho cán bộ ra vào vùng tạm chiếm hoạt động. Từ năm 1962 đến 1972, Y Buông làm chiến sĩ nuôi quân của Đại đội 1, Tiểu đoàn 304 thuộc tỉnh đội Kon Tum. Những khi thiếu thốn lương thực, thực phẩm, Y Buông đã đào củ rừng, hái rau rừng, bắt cua, ốc,... để cải thiện bữa ăn cho đơn vị, anh em bị ốm mệt luôn được chị chăm sóc chu đáo, nhiều khi nhường cả khẩu phần ăn của mình cho đồng đội. Y Buông còn tìm thêm thức ăn, nuôi thường xuyên 5, 6 con lợn và hàng chục con gà, cung cấp thêm cho đơn vị hơn 3 tạ thịt lợn và trên 100 con gà, góp phần cải thiện đời sống cho đơn vị.

Y Buông kế rắng nồi cơm nuôi quân là loại nồi được đúc bằng đồng rất nặng, mỗi lần nấu cho hàng chục người ăn. Hồi đó Y Buông thấp bé, người cứ lùn như bụi chuối. Mỗi lần đơn vị di chuyển, anh em thường ví Y Buông là "nồi cơm di động" vì mớ nồi lỉnh kỉnh treo trước ngực, sau lưng. Mớ "nồi cơm" ấy cứ lúc lắc di chuyển giữa rừng không một ngày ngơi nghỉ. "Hồi đó đánh nhau liên miên, để có được một nắm gạo đến đơn vị phải đổi bằng máu, nhưng đâu phải lúc nào gạo cũng được tiếp tế tới nơi, cũng được đồng bào cõng đến cho bộ đội. Có những ngày bị càn, bộ đội đói lắm. Mình thương vô cùng". Y Buông kể những ngày không có gạo ăn, sợ bộ đội không có sức đánh giặc, chị lại vào rừng cả buổi sáng để chặt măng, tìm rau về cho anh em ăn lấy sức.

Không có muối, chị đi chặt cây chát, xuống suối bắt cá về nấu. Cứ như thế, chị nuôi người Xơ Đăng này đã trở thành một phần máu thịt của những người lính trên chiến trường Đắk Tô - Tân Cảnh và vùng Bắc Tây Nguyên thời kỳ ấy.

Ngoài việc nuôi quân, chị còn tham gia chiến đấu cùng với anh em trong đơn vị. Năm 1967, trong lúc anh em đi tải gạo, ở lán chỉ còn 3 thương binh, chị và 1 chiến sĩ khác do Đại đội trưởng Hòe phụ trách. Lúc đó, hơn 10 tên địch tập kích bất ngờ, Y Buông đã kịp thời giấu nồi cơm, dụng cụ cấp dưỡng và ba lô của anh em vào vị trí bí mật, sau đó cùng Đại đội trưởng chiến đấu với địch. Riêng chị đã dùng lựu đạn diệt 3 tên địch. Những tên còn lại tìm đường bỏ chạy, bị Y Buông bắn đuổi theo và tiêu diệt một tên.

Chuyện của nữ chiến sĩ nuôi quân tiêu diệt 4 tên địch đã lan tỏa khắp các đơn vị chiến trường Đắk Tô - Tân Cảnh ngày ấy, làm nức lòng quân và dân Bắc Tây Nguyên.

Đặc biệt từ năm 1968, làm nhiệm vụ nuôi quân phục vụ đơn vị chiến đấu, phải hành quân cơ động vất vả, Y Buông vẫn bám sát đơn vị, có lần hành quân 5, 6 đêm liền, ban ngày không nghỉ, chị đào bếp, kiếm củ, nấu cơm cho đơn vị ăn đầy đủ, kịp thời. Quá trình phục vụ, hàng trăm lần trong mọi hoàn cảnh địch đánh phá ác liệt, Y Buông vẫn tìm mọi cách nấu được cơm và mang đến trận địa cho đồng đội.

Nồi cơm của chị Y Buông đã góp phần làm nên chiến thắng oai hùng Đắk Tô - Tân Cảnh trong mùa hè đỏ lửa năm 1972 và cũng từ chính "nồi cơm huyền thoại" đã mang theo suốt trong cuộc đời quân ngũ này đã đưa chị trở thành Anh hùng

Lực lượng vũ trang nhân dân, người nữ Anh hùng đầu tiên và duy nhất của dân tộc Xơ Đăng và của tỉnh Kon Tum hiện nay. Hôm ấy, đại đội của chị bị địch phát hiện, chúng dùng pháo cao xạ bắn dữ dội vào chỗ ở của đơn vị. Lúc này đã gần trưa, chị vừa nấu cơm xong, thay vì phải chạy vào hầm đề trú ấn, chị đã dùng cá thân mình ôm chặt lây nồi cơm cho đến khi không còn tiếng pháo...

Lúc anh em trong đơn vị trở vê, chị và nồi cơm bị đất vùi lấp, cả đơn vị phải bới chị từ trong đất lên. Chị bị thương nặng nhưng nồi cơm thì vẫn còn nguyên vẹn, không có một tí đất lọt vào.

Khi tỉnh dậy, anh em hỏi vì sao lại làm như thế, Y Buông nói rằng: "Nếu chị có chết thì vẫn còn người khác thay chị nấu cơm nuôi bộ đội, nhưng nếu nồi cơm mà bị mất đi, bộ đội sẽ bị đói cái bụng, chị thương anh em lắm". Chỉ đơn giản có vậy thôi nhưng trong lòng chị luôn chứa đựng một tình thương yêu vô bờ bến đối với anh em chiến sĩ mà hằng ngày chị gắn bó như những người ruột thịt.

Chị được tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba, 16 bằng khen và giấy khen, 3 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua. Ngày 20-12-1994, Y Buông được Nhà nước tặng thưởng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn