Nữ Bí Thư Thành Ủy Sài Gòn - Chợ Lớn Nguyễn Thị Minh Khai: Đóa Hoa Bất Tử Và Bản Tuyên Ngôn Đanh Thép Nơi Pháp Trường
Nữ Bí Thư Thành Ủy Sài Gòn - Chợ Lớn Nguyễn Thị Minh Khai: Đóa Hoa Bất Tử Và Bản Tuyên Ngôn Đanh Thép Nơi Pháp Trường

Nữ Bí Thư Thành Ủy Sài Gòn - Chợ Lớn Nguyễn Thị Minh Khai: Đóa Hoa Bất Tử Và Bản Tuyên Ngôn Đanh Thép Nơi Pháp Trường
Trong lịch sử cách mạng Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, Nguyễn Thị Minh Khai là một trong những nữ chiến sĩ tiền bối tiêu biểu nhất: người phụ nữ Việt Nam đầu tiên bước lên diễn đàn Quốc tế Cộng sản ở tuổi 25, nữ Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn kiên trung, và là biểu tượng bất diệt của khí phách phụ nữ Việt Nam anh hùng, bất khuất.
Bức ảnh tư liệu lịch sử trên ghi lại chân dung đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai trong trang phục áo dài truyền thống, đầu vấn khăn nhung — hình ảnh đã trở thành biểu tượng quen thuộc trên nhiều tuyến đường và ngôi trường mang tên bà tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng như khắp cả nước.
Người con gái đất Thành Vinh sớm giác ngộ cách mạng
Nguyễn Thị Minh Khai tên khai sinh là Nguyễn Thị Vịnh, sinh ngày 30 tháng 9 năm 1910 tại xã Vĩnh Yên, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Lớn lên trên mảnh đất giàu truyền thống hiếu học và yêu nước, ngay từ khi còn ngồi trên ghế trường Tiểu học Pháp - Việt (trường Cao Xuân Dục), cô nữ sinh Nguyễn Thị Vịnh đã được thầy giáo Trần Phú (sau này là Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng) truyền bá tư tưởng yêu nước.
Năm 1927, ở tuổi 17, Nguyễn Thị Vịnh gia nhập Tân Việt Cách mạng Đảng, dấn thân vào con đường vận động thanh niên và phụ nữ. Đầu năm 1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, bà trở thành một trong những nữ đảng viên lớp đầu tiên, trực tiếp phụ trách công tác tuyên truyền, huấn luyện đảng viên tại khu vực Trường Thi, Bến Thủy (Vinh).
Mùa hè năm 1930, bà được Trung ương Đảng cử sang Hương Cảng (Hồng Kông) làm việc tại Văn phòng Chi bộ phương Đông của Quốc tế Cộng sản. Tại đây, bà được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp bồi dưỡng lý luận cách mạng, tiếng Anh, tiếng Hoa và phương pháp hoạt động bí mật. Tháng 4 năm 1931, bà bị mật thám Anh bắt giam tại Hương Cảng rồi giao cho chính quyền Tưởng Giới Thạch tại Quảng Châu, nhưng nhờ sự thông minh, kiên định không để lộ tung tích, đến năm 1934 bà được trả tự do.
Tiếng nói của phụ nữ Đông Dương trên diễn đàn Quốc tế Cộng sản (1935)
Cuối năm 1934, Nguyễn Thị Minh Khai cùng đoàn đại biểu của Đảng (gồm các đồng chí Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập) sang Moskva (Liên Xô) theo học tại Trường Đại học Phương Đông và chuẩn bị tham dự Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản.
Tháng 8 năm 1935, với bí danh Phan Lan, cô gái Việt Nam mới 25 tuổi đã tự tin bước lên diễn đàn Đại hội VII Quốc tế Cộng sản (và sau đó là Đại hội VI Quốc tế Thanh niên Cộng sản) đọc bản tham luận bằng tiếng Pháp về vai trò của phụ nữ và thanh niên Đông Dương trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, bảo vệ hòa bình thế giới.
Cũng chính tại mảnh đất Moskva, mối tình cách mạng cao đẹp giữa Nguyễn Thị Minh Khai và người đồng chí, người đồng hương Lê Hồng Phong (Tổng Bí thư của Đảng giai đoạn 1935–1936) đã đơm hoa kết trái.
Nữ Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn và hai câu thơ viết bằng máu
Năm 1937, Nguyễn Thị Minh Khai trở về Tổ quốc, trực tiếp tham gia Xứ ủy Nam Kỳ và đảm nhận trọng trách Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn. Giữa sào huyệt của thực dân Pháp, bà ngày đêm bám cơ sở, lãnh đạo các cuộc bãi công của công nhân, biểu tình của nông dân và phụ nữ đòi dân sinh, dân chủ.
Cuối năm 1939, bà sinh con gái đầu lòng là Lê Nguyễn Hồng Minh (ghép tên của Lê Hồng Phong và Nguyễn Thị Minh Khai). Để tránh sự truy lùng gắt gao của mật thám và tiếp tục chỉ đạo chuẩn bị cho cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ, khi con gái mới đầy tháng, bà đã phải nuốt nước mắt gửi con cho các gia đình cơ sở cách mạng nuôi dưỡng.
Ngày 30 tháng 7 năm 1940, sau khi dự phiên họp bàn kế hoạch khởi nghĩa của Xứ ủy Nam Kỳ tại Tân Thới Nhất (Bà Điểm - Hóc Môn), Nguyễn Thị Minh Khai rơi vào ổ phục kích của mật thám Pháp và bị bắt giam tại Khám Lớn Sài Gòn.
Biết bà là Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn và là vợ của đồng chí Lê Hồng Phong, kẻ thù đã dùng mọi cực hình tra tấn tàn bạo nhất, rồi đưa cả hai người ra đối chất nhằm lung lạc tinh thần. Thế nhưng, hai người chỉ nhìn nhau như những người xa lạ để bảo vệ bí mật tuyệt đối của Đảng. Trong xà lim tối tăm của bốt Catinat, Nguyễn Thị Minh Khai đã dùng máu từ những vết thương trên đầu ngón tay viết lên cánh cửa nhà giam hai câu thơ bất hủ:
"Vững chí bền gan ai hỡi ai
Kiên tâm giữ dạ mới anh tài..."
(Trong những ngày tháng bị giam cầm chờ ra pháp trường, bà còn tự tay tước từng sợi vải từ chăn màn trong tù để đan một chiếc áo gối gửi lại cho người con gái nhỏ Hồng Minh với lời nhắn nhủ đầy nước mắt của tình mẫu tử).
Khí phách hiên ngang tại trường bắn Ngã Ba Giồng
Sau cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ (tháng 11/1940), tòa án binh của thực dân Pháp đã kết án tử hình Nguyễn Thị Minh Khai cùng nhiều đồng chí lãnh đạo Trung ương và Xứ ủy.
Trước tòa án của kẻ thù, bà biến vành móng ngựa thành nơi tố cáo tội ác thực dân với lời tuyên bố đanh thép:
"Nước của chúng tôi thì chúng tôi phải cứu, dân của chúng tôi có khổ thì chúng tôi phải làm cho họ được sướng! Không ai có quyền ngăn cản chúng tôi làm việc đó... Cách mạng nhất định sẽ thành công!"
Rạng sáng ngày 28 tháng 8 năm 1941 (nhằm ngày 6 tháng 7 năm Tân Tỵ), thực dân Pháp đưa Nguyễn Thị Minh Khai cùng các đồng chí Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ, Võ Văn Tần, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Hữu Tiến... về trường bắn tại Ngã Ba Giồng (thuộc làng Xuân Thới Tây, Hóc Môn, Gia Định) để xử bắn.
Trước mũi súng của kẻ thù và đông đảo đồng bào Hóc Môn - Bà Điểm bị ép ra chứng kiến, người nữ Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn trong bộ bà ba trắng tự tay giật phăng chiếc khăn đen bịt mắt, dõng dạc hô vang lời chào vĩnh biệt đồng bào và khẩu hiệu: "Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm! Cách mạng Việt Nam thành công muôn năm!".
Nguyễn Thị Minh Khai anh dũng hy sinh khi mới 31 tuổi, để lại một tấm gương chói lọi về chủ nghĩa anh hùng cách mạng.



