Nữ chiến sĩ nuôi quân - ngày ấy, bây giờ
Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, đã có hàng nghìn nữ thanh niên tình nguyện lên đường “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, góp phần không nhỏ làm nên những thắng lợi vẻ vang của dân tộc. Trên chiến trường khốc liệt, trên tuyến đường mang tên Bác huyền thoại ấy có đội ngũ nữ chiến sĩ Trường Sơn “huyền thoại của huyền thoại”. Một trong số đó là đồng chí Trần Thị Chung, Tiểu đội trưởng nuôi quân, Binh trạm 44, Sư đoàn 471, Trường Sơn.
Đầu xuân năm 2024, tôi may mắn được đến gặp nữ chiến sĩ Trường Sơn Trần Thị Chung. Người phụ nữ có gương mặt rạng rỡ, với mái tóc ngắn bồng bềnh và nụ cười đằm thắm.
Đồng chí Trần Thị Chung, sinh ngày 10/01/1956, quê tại xã Vũ Hội, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, nguyên Tiểu đội trưởng tiểu đội nuôi quân, Binh trạm 44 thuộc Sư đoàn 471, Trường Sơn[T1] . Chị là Phó Chủ tịch Hội Doanh nhân Trường Sơn Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Nữ chiến sĩ Trường Sơn Việt Nam; nguyên Bí thư chi bộ, Phó Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Đầu tư Kinh doanh Phát triển nhà và Thương mại Hà Nội. Hiện nay chị đang là Giám đốc đại diện Công ty trách nhiệm hữu hạn Xuất nhập khẩu Thái Bình.
Ký ức về những ngày tháng ở Trường Sơn
Quyết tâm mở đường Trường Sơn và thực hiện thành công quyết tâm ấy là thành công kiệt xuất, một kỳ tích của dân tộc ta trong thế kỷ 20. Biết bao người con nước Việt Nam lên đường làm nhiệm vụ, chiến đấu, bảo vệ tuyến đường là “trận đồ bát quái xuyên rừng rậm”. Đối với cựu nữ thanh niên xung phong Trần Thị Chung, đó là ký ức hào hùng, chiến đấu oanh liệt vẫn luôn hiện về sáng rõ không thể nào quên. Chị chia sẻ: “Đầu năm 1972, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn ác liệt, khi đó tôi mới tròn 16 tuổi, đang học lớp 7, tôi giấu bố mẹ viết đơn tình nguyện lên đường nhập ngũ. Không đủ tuổi tôi sửa năm sinh 1956 thành 1955. Có giấy báo trúng tuyển, thế là bố mẹ biết, người mẹ tảo tần thương con chưa đủ tuổi không muốn cho con đi. Thương mẹ vô cùng nhưng tôi quyết tâm ra đi. Chưa kịp thi tốt nghiệp, tôi và một số bạn nhập ngũ cùng đợt được nhà trường đặc cách tốt nghiệp”.
Thế là mùa xuân năm 1972, nữ chiến sĩ trẻ Trần Thị Chung chia tay gia đình, người thân xốc ba lô lên đường vào mặt trận. Chị được điều động về Tiểu đoàn 930, Trung đoàn 51 đóng ở Quỳnh Bảo, Quỳnh Phụ, Thái Bình để huấn luyện. Trong 4 tháng huấn luyện, chị được chỉ định làm Tiểu đội trưởng Tiểu đội 7. Thông minh, mạnh mẽ, quyết đoán, say mê và hừng hực khí thế của tuổi trẻ, tham gia một cách hiệu quả, sáng tạo mọi hoạt động của đơn vị. Kết thúc đợt huấn luyện, với kết quả bắn súng đạt loại giỏi, chị được thưởng 3 ngày phép về quê thăm bố mẹ. Ba ngày phép trôi qua chị lại hăm hở lên đường về đơn vị và lần này là cuộc hành quân vào chiến trường miền Nam.
Tiểu đội của chị hòa trong đội hình hành quân trùng trùng điệp điệp vượt dãy Trường Sơn ra trận. Sau những ngày dài hành quân cả tiểu đội dừng chân ở Binh trạm 44, Sư đoàn 471. Đây là binh trạm xa nhất, khổ nhất của Trường Sơn. Nhận nhiệm vụ nuôi quân ở Binh trạm 44, Tiểu đội trưởng Trần Thị Chung phân công cho 10 chiến sĩ trong tiểu đội đảm nhận các công việc tưởng chừng thật đơn giản: vào rừng tìm rau, hái nấm, kiếm măng rừng, nấu ăn và chăn nuôi. Giữa rừng già Trường Sơn, bom đạn, biệt kích, thú rừng, muỗi vắt và những cơn sốt rét rừng... tất cả đều rình rập và sẽ ập đến bất cứ lúc nào. Công việc tưởng chừng như đơn giản nhưng cũng thật là khủng khiếp, có khi một nhóm 2,3 chiến sĩ cùng đi, nhưng có lúc nhiều việc quá chỉ đi một mình.
Có lần, một mình chị mang theo khẩu AK vào rừng tìm kiếm đồ ăn. Đang hăm hở tiến bước thì giật mình sững lại, một con trăn to khổng lồ đang nằm phơi mình trên một cây gỗ mục giữa lối đi, chị sợ phát khiếp, đứng lặng rồi bật khóc nhưng biết làm sao được, chỉ một mình giữa rừng sâu, công việc cấp bách là phải kiếm rau và măng mang về ít nhất 2 bao cho bữa chiều. Thế là chị lau nước mắt, mím môi tìm đường đi vòng tránh xa con trăn. Bữa ấy chị quên cả sợ để hái rau, hái măng đầy chật 2 bao tải mang theo. Nhưng từ trên người chị thì vô số những con vắt no căng cũng đang lặng lẽ rơi xuống. Chị rùng mình tìm khắp người lôi ra hàng chục con vắt đang bám trên da thịt. Trên đường về, vai đeo súng, vai khoác bao rau, 2 tay thì thay nhau kéo bao măng leo đèo, lội suối. Về đến đơn vị, nhễ nhại mồ hôi, những vết vắt cắn tóe máu tươi, nhưng chị thật vui vì đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn, gian khổ giữa Trường Sơn, chứng kiến cảnh bộ đội cứ ăn mãi những bữa cơm đạm bạc với rau rừng, măng rừng, lương khô, đồ hộp. Tiểu đội trưởng Trần Thị Chung như thấy mình có lỗi với cán bộ, chiến sĩ. Chị day dứt, trăn trở rồi mày mò tìm cách cải thiện bữa ăn cho bộ đội. Nghe nói ở Binh trạm bộ có anh biết nghề mộc, chị tìm gặp và đề nghị anh làm giúp cái cối xay gạo. Rồi chị lấy ống thịt hộp đục vái cái lỗ, làm bún cho bộ đội ăn và tiếp sau đó là bánh cuốn, đậu phụ, giá đỗ... Nhìn các bữa ăn được cải thiện, cán bộ, chiến sĩ ăn ngon lành, tiểu đội nuôi quân của chị ôm nhau cười vui đến trào nước mắt. Chị hào hứng kể: “Đến bây giờ nghĩ lại, không hiểu vì sao hồi đó tôi đã nghĩ ra cách vùi đỗ xanh xuống cát để làm giá đỗ. Được khoảng 4,5 ngày thì đãi cát sạch đi để lấy lên được cả rổ mầm giá đỗ trắng muốt. Là phụ nữ nhưng tôi chẳng nề hà việc gì, kể cả mổ lợn - công việc mà thường chỉ đàn ông mới làm được...”
Và trong những năm tháng ấy, tiểu đội nuôi quân của chị được cán bộ, chiến sĩ Trường Sơn quý lắm. Nhất là các cán bộ, chiến sĩ bị ốm, bị thương, các chị chăm sóc tận tình, chế biến các món ăn hấp dẫn để các anh ngon miệng và chóng lại sức. Tiếng lành đồn xa, một lần họa sỹ Đức Dụ đã tìm đến tận Binh trạm 44 để tìm cảm hứng cho bức họa của mình. Gặp tiểu đội nuôi quân của chị, ông ngạc nhiên khi thấy giữa chốn rừng sâu, thiếu thốn đủ bề, vậy mà “các cô Tấm Trường Sơn” luôn chân luôn tay chế biến đủ món: nào là bún, đậu, mắm tôm, nào nấm hương, mộc nhĩ, thịt lợn băm, phi hành thơm phức để làm nhân bánh cuốn... Những hương vị thơm phức quen thuộc như giữa quê nhà. Xúc động và cảm phục, họa sĩ Đức Dụ đã ngồi ngay xuống bệ đá, thần tốc ký họa cảnh làm việc tại bếp nuôi quân của Tiểu đội trưởng Trần Thị Chung.
Bức họa ấy, mấy chục năm sau hòa bình ông vẫn lưu giữ cẩn thận. Thế rồi năm 2014, trong một chuyến công tác cùng Hội Trường Sơn Việt Nam, ông vô tình gặp lại nguyên mẫu nhân vật trong bức ký họa của mình - giờ chị đã là một doanh nhân thành đạt, lại luôn dẫn đầu trong công tác thiện nguyện từ tâm. Thế là, vẫn nguyên cảm hứng của Trường Sơn, cùng niềm cảm phục hiện tại, ông đã chuyển thể bức ký họa năm nào thành bức tranh sơn dầu chân thực mà sinh động, tràn đầy sức sống Trường Sơn để trao tặng chị - như một món quà tri ân của cán bộ, chiến sĩ Trường Sơn đối với chị.
Bức tranh sơn dầu “Những năm tháng ở Trường Sơn” thật sống động lạ lùng: những sắc vàng tươi tắn của nắng Trường Sơn, của lá rừng Trường Sơn, của mái tranh bếp nuôi quân... Phía xa xa là khoảng trời xanh lơ, là rừng cây nhuốm sắc vàng xanh trải dài tít tắp cùng những đoàn quân đang hối hả hành quân. Trung tâm của bức tranh là một cô gái trẻ, có gương mặt thanh tú, rạng rỡ với bím tóc đen dài đang xách thùng ra suối múc nước - đó chính là nữ chiến sỹ nuôi quân Trần Thị Chung. Đồng đội của cô - người bên bếp lửa, người bên cối xay... đang mải miết với công việc. Hiện nay bức tranh đang được trưng bày tại Bảo tàng Hậu cần và nhiều bảo tàng khác.
Trong những năm tháng gian khổ mà hào hùng ở Trường Sơn, Tiểu đội trưởng Trần Thị Chung luôn mê say, nhiệt huyết, sáng tạo và luôn đạt hiệu quả cao trong mọi nhiệm vụ được phân công nên ngay từ năm 1973, chị đã được bầu là Chiến sĩ thi đua xuất sắc của đơn vị. Năm 1974, chị được đặc cách với danh hiệu Chiến sỹ Quyết Thắng. Cũng trong năm 1974, tại Đại hội mừng công của Sư đoàn 471, chị vinh dự được tham dự Đại hội. Và thật bất ngờ, chị - một cô gái mới hơn 17 tuổi đời và chưa đầy 2 năm tuổi quân lại được ngồi ở ghế Chủ tịch đoàn cùng Anh hùng Tô Quang Lập.
Nỗi đau sau chiến tranh
Sau ngày giải phóng, thống nhất đất nước, cuối năm 1975, chị hành quân ra Bắc. Vừa đến Đồng Hới - sau bao năm tháng dài xa cách, đang háo hức với bao dự định và niềm vui vì sắp được gặp lại gia đình thì chị bất ngờ gặp được người bạn cùng quê và bàng hoàng nghe tin dữ: Bố chị đã mất từ năm 1974, thương con gái đang ở chiến trường ác liệt, mẹ chị đã giấu không cho chị biết. Chị khụy xuống, nghẹn ngào, choáng váng vì nỗi đau bất ngờ quá lớn.
Về đến quê, vừa kịp chào mẹ và các em chị được dẫn đến mộ cha. Chị lao đến gục bên mộ lặng lẽ khóc và cảm nhận đến cùng nỗi đau mà chiến tranh nghiệt ngã đã để lại. Chị thầm nghĩ: “Chiến tranh - đã chia lìa bao tình phụ tử, đã làm cho bao gia đình phải tan nát, đã cướp đi bao đồng đội thân yêu của ta... Không! Ta không được gục ngã, con phải sống sao cho xứng đáng, để bố được tiếp tục tự hào về con”. Bên mộ cha, giữa mênh mông cánh đồng lúa xanh, chị như nghe văng vẳng đâu đó lời thiết tha của bố. Chị đã lau nước mắt và đứng lên.
Mạnh mẽ và nhân ái giữa thời bình
Chị được đơn vị điều về Đoàn 153, Trà Lý, Thái Bình để ôn văn hóa, tại đây cuộc đời chị bắt đầu bước sang trang mới. Năm 1980, chị ra trường và được phân công về làm quản lý nhà ăn trường Đại học Pháp lý (nay là Trường Đại học Luật Hà Nội). Vốn thông minh, tháo vát chị vừa quản lý nhà ăn, vừa đi học thêm kế toán rồi chuyển sang làm kế toán nhà ăn của trường, tuy khó khăn vất vả chị vẫn kiên trì tiếp tục học Đại học tại chức để có thêm bằng Cử nhân Luật.
Nhưng dường như tấm lòng thơm thảo của Tiểu đội trưởng nuôi quân từ thuở Trường Sơn vẫn luôn thôi thúc chị tiếp tục đam mê với những công việc nhân ái, thiện nguyện vì cộng đồng. Vì vậy năm 1998, chị chuyển công tác về Hội Chữ thập đỏ, quận Cầu Giấy. Tại đây chị đã có nhiều đóng góp cho các hoạt động từ thiện của Hội và thành phố Hà Nội.
Những tưởng sau nhiều năm cống hiến cho sự nghiệp xây dựng phát triển đất nước bà Chung về nghỉ ngơi, nhưng ngược lại, bà tiếp tục hăng hái bắt tay vào các công việc xã hội từ thiện. Với bà Trần Thị Chung thì niềm đam mê công việc, lòng yêu nghề và sự vượt khó đã ăn vào máu thịt. Còn sức là còn làm việc, còn phục vụ cho cộng đồng.
Bén duyên với công tác thiện nguyện từ trong tâm khảm của người phụ nữ để rồi ngay khi còn công tác cho đến khi đã về nghỉ hưu, chị Trần Thị Chung luôn trực tiếp vận động nhiều tổ chức và cá nhân đóng góp hỗ trợ tiền và hàng hóa cho hoạt động từ thiện hỗ trợ cho nhiều gia đình có hoàn cảnh khó khăn, các cụ già neo đơn không nơi nương tựa và các cháu con cựu chiến binh bị nhiễm chất độc da cam… Từ những việc làm thiết thực ấy, bà đã nhiều lần được tặng Bằng khen Trung ương Hội, Thành hội và danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp Quận và cấp Thành phố.
Có lẽ với bà Trần Thị Chung thì bà không thuần túy chỉ là một phụ nữ đảm đang, mà còn là một doanh nhân mang tinh thần hướng thiện, một sứ giả của lòng nhân ái lấy hạnh phúc và niềm vui của con người làm lẽ sống cho cuộc đời thêm vui.
Nữ chiến sĩ bảo vệ môi trường bền vững
Ngoài việc phát triển kinh doanh, Công ty chị còn triển khai dự án “Trồng rừng thâm canh cây gió bầu để lấy trầm hương” tại thôn Hạnh Phúc, xã Tân Hợp, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái với quy mô là 106 ha cây gió bầu xen cây sưa đỏ, quế và sen một số loại cây khác. Dự án này đã góp phần phát triển kinh tế ở địa phương, tăng thêm diện tích rừng đầu nguồn và đem lại lợi ích to lớn về môi trường. Giữa rừng cây gió bầu chị còn cho chăm sóc cây giảo cổ lam, để chế biến chè. Đặc sản chè giảo cổ lam 5 lá của Công ty chị đã nức tiếng trên thị trường… Chị chia sẻ: “Mong ước của chị là rừng cây gió bầu phát triển sẽ là chốn bình yên cho các loại thú rừng và chim chóc tụ về”. Đến nay cây gió bầu đang phát triển rất tốt, tạo công ăn việc làm và thu nhập cho nhiều người dân địa phương.
Hiện nay chị đang là Giám đốc đại diện cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Xuất nhập khẩu Thái Bình tại thôn Hạnh Phúc, xã Tân Hợp, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Công ty hoạt động trên nhiều lĩnh vực kinh doanh trong đó có ngành nghề trồng rừng, chế biến nông lâm sản, trà dược liệu Giảo cổ lam. Hằng năm Công ty của chị cũng tham gia đóng góp ủng hộ cho các quỹ hội, xây dựng đường xá, các công trình dân sinh, cá hoạt động của địa phương.



