Nụ cười bất tử bên dòng Thạch Hãn
Họ và tên: Lê Xuân Chinh Năm sinh: 1954 Quê quán: Thái Bình (nay là Hưng Yên) Phân loại: Cựu Chiến binh, Thương binh 4/4 trong trận chiến 81 ngày đêm ở Thành cổ Quảng Trị năm 1972.

Hơn nửa thế kỉ đã qua, vì sao nụ cười ấy vẫn còn nguyên?
Hai bức ảnh, hai khoảng thời gian cách nhau hơn nửa thế kỉ. Một tấm được chụp giữa lúc khói lửa bom đạn ngút ngàn với niềm tin chiến thắng mãnh liệt, tấm còn lại đong đầy nét thảnh thơi của những ngày đất nước trọn vẹn hòa bình. Nhân vật trung tâm vẫn là một - người chiến sĩ Lê Xuân Chinh năm ấy. Thế nhưng, phía sau nụ cười rạng rỡ thời hoa lửa năm 1972 và ánh mắt hiền từ năm 2025 là trọn vẹn một kiếp người trầm lặng, là nỗi niềm nhớ thương gửi lại những đồng đội đã nằm xuống, và là cả hành trình gian lao nhưng tự hào nối liền hai bờ “chiến tranh” - “hòa bình”.
Người con làng lụa và lời thề tuổi mười tám
Ông Lê Xuân Chinh - Cựu Chiến Binh (Thương binh 4/4) sinh năm 1954, là người con ở làng dệt Phương La, Thái Bình (nay là xã Tiên La, huyện Hưng Hà, tỉnh Hưng Yên), nơi ở hiện tại: Xã Thanh Yên, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
Mùa xuân năm 1971, làng dệt Phương La vẫn chìm trong nhịp điệu quen thuộc vốn có bao đời. Tiếng thoi dệt lạch cạch vang lên từ những mái nhà gạch cũ, mùi hồ vải thơm nồng quyện trong sương sớm. Nhưng đằng sau cái êm đềm trầm mặc ấy của hậu phương là những đợt sóng ngầm cuộn dâng khi tiền tuyến vẫy gọi.
Trong ngôi nhà nhỏ xiêu vẹo ở góc làng, chàng thanh niên Lê Xuân Chinh lớn lên mà chưa một lần biết mặt cha. Là đứa con duy nhất trong nhà, ông không chỉ là giọt máu nối dỗi mà còn là toàn bộ nguồn sống, là điểm tựa duy nhất của mẹ khi bóng chiều đổ xuống.
Theo chính sách của Nhà nước thời bấy giờ, những người con một như Lê Xuân Chinh thuộc diện ưu tiên tuyệt đối được ở lại hậu phương. Nhưng tuổi mười tám của những năm tháng ấy không cho phép người ta yên vị. Mỗi ngày trôi qua, nghe tiếng đài phát thanh truyền đi tin tức về những đợt bom dội ở bốt Đường 9, về chiến trường Quảng Trị rực lửa, lòng người thanh niên làng Mẹo lại như có lửa đốt. Một bên là người mẹ già cô quạnh cần bàn tay chăm sóc, một bên là tiếng gọi khẩn thiết của non sông - sự giằng xé nội tâm ấy đè nặng lên từng suy nghĩ của Chinh suốt những đêm dài trằn trọc.
Khi quyết định gạt bỏ sự ưu ái cá nhân để tự nguyện viết đơn nhập ngũ, điều khiến chàng trai mười tám tuổi trăn trở nhất chính là phản ứng của người mẹ. Nguyện vọng cống hiến cho Tổ quốc vô cùng mãnh liệt, nhưng nỗi lo làm mẹ tổn thương, làm mẹ cô đơn giữa tuổi già bóng xế cứ đan xen trong từng nhịp thở.
Thế rồi, khoảnh khắc đối diện với quyết định của con trai, người mẹ góa ấy dù thắt lòng nhưng vẫn bao dung nâng đỡ bước chân con. “Mẹ ủng hộ con, nhưng lòng mẹ lúc nào cũng như lửa đốt”, ông Chinh nhớ lại lời mẹ.
Thấu hiểu nỗi lòng và sự lo âu của mẹ nơi hậu phương, trước giờ phút chia ly lên đường ra tiền tuyến, chàng thanh niên Lê Xuân Chinh đã khắc sâu trong tâm khảm một lời hứa sắt đá. Mang theo tình thương bao la của mẹ cùng bầu nhiệt huyết tuổi trẻ, ông đã thốt lên lời thề định mệnh: “Con đi chết xanh cỏ, sống đỏ ngực, con hứa sẽ không bao giờ đào ngũ làm ô danh mẹ và gia đình”
Lời thề ấy không chỉ là cam kết của một người lính trước kỷ luật chiến trường, mà còn là lời hứa thiêng liêng của một người con hiếu thảo gửi lại người mẹ già nơi làng dệt. Nó trở thành hành trang tinh thần vô giá, theo chân Lê Xuân Chinh suốt những năm tháng nếm mật nằm nằm giữa chảo lửa chiến tranh.
Người liên lạc giữa vùng lửa đạn
Tháng 6 năm 1972, khi chiến trường Quảng Trị bước vào giai đoạn 81 ngày đêm đỏ lửa, người thanh niên mười tám tuổi Lê Xuân Chinh có mặt tại chảo lửa Thành cổ. Giữa một vùng đất nhỏ hẹp bị vây hãm bởi mưa bom pháo bầy - nơi tuổi thọ của một người lính đôi khi chỉ tính bằng giờ, Lê Xuân Chinh được giao một trọng trách nguy hiểm gấp bội: Chiến sĩ liên lạc thuộc Đại đội 18 Thông tin, Trung đoàn 48 (Sư đoàn 320B).
Ở tuổi mười tám, Chinh không cầm súng trực tiếp nhắm vào quân địch trên mâm pháo hay trong hào chiến, mà nhiệm vụ của ông là giữ cho “mạch máu” thông tin không bao giờ bị đứt gãy. Mỗi tập mật thư, mỗi mệnh lệnh tác chiến khẩn cấp từ Ban Chỉ huy Trung đoàn xuống các chốt tiền tiêu hay nhiệm vụ dẫn đường cho lực lượng vượt sông Thạch Hãn đều đè nặng lên vai người lính trẻ. Đằng sau lớp nilon chống nước bọc chặt tập công văn gài trước ngực áo là sinh mệnh của cả một đơn vị.
Mỗi lần nhận lệnh rời hầm ngầm lao vào đêm tối, Lê Xuân Chinh hiểu mình đang bước một chân qua “lằn ranh sinh tử”. Đêm Quảng Trị mùa hè năm ấy thường xuyên mưa như trút nước, biến mặt đất Thành cổ thành một đầm lầy quyện chặt gạch đá vụn, dây thép gai và mùi thuốc súng khét lẹt. Không có bản đồ dải nhựa, không có thiết bị định vị, Chinh chỉ có thể dò đường bằng đôi mắt rực lửa tuổi trẻ và đôi bàn tay trầy xước. Đường trơn như đổ mỡ, trúng mảnh pháo hay vấp phải xác xe tăng đổ nát là chuyện diễn ra hằng ngày, nhưng ông chưa một lần dám trễ hẹn.
“Có những chuyến đi, tối tăm mù mịt, pháo sáng lập lòe trên không. Tôi phải bò bằng khuỷu tay, áp sát mặt xuống bùn lắng nghe tiếng rít của pháo”, ông Chinh bồi hồi nhớ lại từng khoảnh khắc đối đầu với cái chết. “Mỗi chuyến đi làm nhiệm vụ là một lần đối mặt với tử thần. Nhưng thông tin trận mạc tính bằng giây, chỉ chậm một phút thôi là có thể trả giá bằng tính mạng của hàng trăm đồng đội đang gồng mình dưới hào”.
Chính những suy nghĩ đau đáu hướng về đồng đội đã chiến thắng nỗi sợ hãi cá nhân trong lòng người chiến sĩ trẻ. Sau mỗi chuyến luồn lách qua mưa đạn trở về hầm, nhìn những gương mặt rát sương, lem luốc mồ hôi và máu của anh em, Chinh lại tìm thấy điểm tựa để tiếp tục dấn thân. Ông cùng đồng đội chia nhau từng ngụm nước cặn bùn, nhường nhau củ sắn khô hay chuyền tay nhau điếu thuốc lá nhòe nước mưa dưới ánh đèn cầy chập chờn. Có những người anh em vừa mới tựa lưng vào vai ông thì thầm tâm sự lúc chạng vạng, nhưng chỉ sau một đợt pháo gầm chuyển làn, họ đã vĩnh viễn nằm lại.
Những mất mát ngay trước mắt không làm người lính liên lạc mười tám tuổi nao núng. Ngược lại, nó hun đúc trong tâm khảm Lê Xuân Chinh một ý chí sắt đá: Phải sống, phải chạy thật nhanh, phải chuyển mật thư thật chuẩn xác để bảo vệ đồng đội và thực hiện trọn vẹn lời thề ngày rời quê mẹ Thái Bình.
Chính trong những ngày tháng trực chiến 24/24 giờ giữa bom rơi đạn nổ ấy, nụ cười rạng rỡ bên đống đổ nát của ông đã được nghệ sĩ nhiếp ảnh Đoàn Công Tính ghi lại. Bức ảnh đăng trên Báo Quân đội Nhân Dân đúng ngày Quốc khánh 2/9/1972 không chỉ trở thành biểu tượng “Nụ cười chiến thắng bên Thành cổ Quảng Trị”, mà với người lính trẻ ngày ấy, đó còn là lời nhắn gửi vô giá về hậu phương: “Tôi cười thật tươi để nếu mẹ ở quê có nhìn thấy ảnh trên báo, sẽ biết rằng con trai mình vẫn còn sống mà yên lòng”.
Nụ cười bất tử bên dòng Thạch Hãn
Chia sẻ về sự ra đời của bức ảnh biểu tượng “Nụ cười chiến thắng bên Thành cổ Quảng Trị”, cựu chiến binh Lê Xuân Chinh nhớ như in từng chi tiết, như vừa mới xảy ra ngày hôm qua.
Đó là một đêm mùa hè năm 1972, vào khoảng 23 giờ. Giữa lúc pháo bầy đối phương dội liên hồi xuống bến sông Thạch Hãn, người chiến sĩ liên lạc mười tám tuổi Lê Xuân Chinh nhận nhiệm vụ đặc biệt: Dẫn phóng viên chiến trường Đoàn Công Tính (Báo Quân đội Nhân Dân) vượt sông tiến vào hầm ngầm Thành cổ. Trong bóng tối mù mịt lập lòe ánh pháo sáng, Chinh cùng nhà báo mò mẫm suốt hơn một giờ đồng hồ giữa lằn ranh sống chết mới tiếp cận được căn hầm trú ẩn an toàn của Ban Chỉ huy.
Sáng hôm sau, khi tiếng pháo địch vừa tạm ngớt chuyển làn, Lê Xuân Chinh tiếp tục dẫn nhà báo Đoàn Công Tính ra chốt trực chiến ở phía đông Thành cổ. Giữa khung cảnh hoang tàn, gạch đá ngói vụn chất thành đống, những vách tường cổ kính bị đạn pháo cày xới nát vụn, nhóm chiến sĩ liên lạc và tay súng trực chiến nhô đầu ra khỏi chiến hào hít thở không khí. Nhìn thấy khí thế kiên cường của những người lính trẻ, nhà báo Đoàn Công Tính lập tức giơ máy ảnh lên và gọi lớn: “Dừng ở đây. Chinh, ngồi ra trước máy đi, cười rạng rỡ lên nhé!”.
Giữa đống đổ nát còn nghi ngút khói súng, anh lính mười tám tuổi Lê Xuân Chinh ngồi phía trước, nở một nụ cười rạng rỡ, trong trẻo và ngạo nghễ. Khoảnh khắc ấy hoàn toàn không phải là sự vô tư đơn thuần của tuổi trẻ, mà là sự dũng cảm tột cùng của một thế hệ đã coi thường cái chết.
Giọng trầm xuống, ánh mắt ông Chinh ánh lên nỗi bồi hồi xúc động khi nhớ lại suy nghĩ chân thực của mình lúc bấm máy:
“Lúc đó, tôi chẳng mong cầu nổi tiếng hay gì. Chỉ nghĩ đơn giản là biết đâu ảnh được đăng báo, mẹ ở quê xem được sẽ biết con trai mình vẫn còn sống mà yên lòng. Sống chết có số cả, cứ cười một cái cho khí thế, vì có khi chụp xong lát nữa hy sinh hết rồi... nên phải trân trọng từng phút giây mình còn hơi thở”.
Lời bộc bạch mộc mạc mà nhói lòng ấy đã gói trọn tâm tư của người con đi xa, lấy nụ cười làm lời nhắn gửi trọn vẹn niềm tin và sự bình an về với mẹ. Nụ cười ấy là lời nhắn gửi vô giá về hậu phương, là niềm tin sắt đá gửi tới người mẹ già nơi làng dệt Phương La. Giữa “chảo lửa” tàn khốc, nơi sống chết chỉ trong gang tấc, nụ cười của người lính trẻ không chỉ xua tan đi cái lạnh lẽo của bom đạn mà còn thắp sáng lên khí phách bất khuất, tinh thần lạc quan đến phi thường của cả một thế hệ sẵn sàng hy sinh cho Tổ quốc.
Bức ảnh ngay sau đó được đăng trang trọng trên Báo Quân đội nhân dân đúng dịp Quốc khánh 2/9/1972, trở thành biểu tượng bất tử mang tên “Nụ cười chiến thắng bên Thành cổ Quảng Trị” - nhân chứng sống động cho khí chất bất khuất của dân tộc Việt Nam giữa “chảo lửa chiến tranh”.
Vết thương Ái Tử và bức ảnh sống mãi với thời gian
Ánh mắt đăm chiêu nhìn về xa xăm, cựu chiến binh Lê Xuân Chinh ngược dòng ký ức trở về trận chiến Thành cổ Quảng Trị (28/6 - 16/9/1972) - một trong những cuộc đụng độ khốc liệt nhất lịch sử. “Tôi vẫn nhớ như in, đó là chiều ngày 5 tháng 9 năm 1972, khi những vệt nắng cuối ngày nhuốm đỏ chân tường Thành cổ...” ông Chinh bồi hồi nhớ lại.
Khi đang luồn lách qua các lùm cây giáp ranh đường giao thông hào, một đợt pháo kích bất ngờ của đối phương dội xuống. Mảnh pháo oan nghiệt xé tan không khí, găm sâu vào sườn trái của Chinh. Cơn đau thấu xương ập đến, máu tuôn xối xả nhuộm đỏ vạt áo. Người lính trẻ lịm dần đi trong mê man, đứng giữa ranh giới mỏng manh của sự sống và cái chết.
Ông được đồng đội chuyền tay đưa vượt sông Thạch Hãn ra tuyến sau cấp cứu. Khi tỉnh lại tại Bệnh viện dã chiến 112 (Lệ Thủy, Quảng Bình) giữa mùi thuốc sát trùng nồng nặc và tiếng rên rỉ của thương bệnh binh, Lê Xuân Chinh mới biết mình vừa từ cõi chết trở về. Vết thương nặng khiến ông bị suy giảm sức khỏe nghiêm trọng, nhận tỉ lệ thương tật thương binh hạng 4/4.
Nhưng đó cũng chỉ là một trong vô số lần ông đối mặt với cái chết. “Mọi thứ xung quanh bị san phẳng, đất trời rung chuyển dữ dội. Nhiều ngày sau đó, tai tôi vẫn ù đặc, cảm giác như tiếng bom đạn Thành cổ vẫn còn dội liên hồi bên tai...” giọng ông trầm xuống.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Mỗi vết sẹo găm trên thân thể giờ đây đã trở thành dấu tích vô giá của một thời hoa lửa, là cái giá đắt đỏ mà ông cùng đồng đội sẵn sàng đánh đổi để đổi lấy độc lập tự do. Giữa lằn ranh mong mỏng ấy, tinh thần người chiến sĩ vẫn vẹn nguyên, kiên cường vượt qua từng cơn đau thể xác.
Trong những ngày nằm điều trị vết thương nơi tuyến sau, người chiến sĩ trẻ bất ngờ nhận được tin từ cấp trên: Bức ảnh chụp mình đã được đăng trang trọng trên Báo Nhân Dân đúng dịp Quốc khánh 2/9/1972. Khoảnh khắc ngẫu hứng giữa chiến hào năm ấy, ông Chinh chưa từng nghĩ sẽ trở thành một phần của lịch sử. Tưởng chừng như đã lui vào dĩ vãng theo năm tháng khói lửa, bức ảnh “Nụ cười chiến thắng bên Thành cổ Quảng Trị” ấy vẫn sống mãi và được lưu truyền trọn vẹn cho đến hôm nay - như một nhân chứng thời gian hiện đang được trang trọng lưu giữ tại Bảo tàng Thành cổ Quảng Trị.
Lặng lẽ một lời thề tri ân
Năm 1974, trở về với cuộc sống đời thường, ông lập gia đình và lặng lẽ gắn bó với vùng đất xã Thanh Yên, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên. Nửa thế kỷ trôi qua, chiến tranh đã lùi xa, nhưng trong tâm khảm người cựu chiến binh ấy, ngọn lửa tri ân và nỗi nhớ thương những người từng chung một hào chiến chưa bao giờ nguôi ngoai.
Dẫu đường sá xa xôi, dẫu tuổi tác ngày một cao, lòng ông vẫn luôn hướng về những người đã nằm xuống với một niềm đau đáu khôn nguôi. Ông Chinh chia sẻ:
“Cứ vào tháng 7, anh em tôi lại trở vào thắp hương cúng cơm cho các anh em đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường, không được trở về như chúng tôi. Đấy là một điều mà chúng tôi luôn đau đáu. Vào tháng 7, bằng giá nào, dù mưa, nắng, chúng tôi cũng trở về Quảng Trị. Chúng tôi luôn bảo nhau, trừ khi nào anh em mình yếu, không thể đi được nữa thì lúc đó chúng ta mới dừng những cuộc hành quân về chiến trường. Dù là những người cùng ngành, cùng nhập ngũ, nhưng các anh đã nằm lại để chúng tôi được trở về. Sự hy sinh của các anh đã để chúng tôi được sống và giải phóng toàn dân tộc.”
Mỗi chuyến ngược đường trở về Quảng Trị vào mùa hè tháng Bảy đối với ông Lê Xuân Chinh không đơn thuần là một hành trình hoài niệm, mà là một “cuộc hành quân tâm linh” của những người lính may mắn sống sót. Đứng trước Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn, Đường 9, lặng người thả nhành hoa xuống dòng sông Thạch Hãn cuồn cuộn sóng, giọt nước mắt của người cựu chiến binh lại lặng lẽ rơi. Trong làn khói hương trầm nghi ngút, ông như thấy lại gương mặt ngây thơ của những đồng đội tuổi mười tám, đôi mươi năm xưa - những người đã dâng hiến trọn vẹn tuổi xuân tươi đẹp nhất để đổi lấy màu xanh bình yên cho quê hương.
Từng nén hương trầm thắp lên giữa ngàn mộ chí không chỉ xoa dịu nỗi đau mất mát, mà còn là lời thì thầm gắn kết giữa hai thế hệ âm dương. Tình đồng chí thiêng liêng ấy vẫn vẹn nguyên, sắt son theo cùng năm tháng.
Bởi lẽ, đằng sau “nụ cười chiến thắng” rạng rỡ năm nào là trọn vẹn một nghĩa tình son sắt, và hòa bình hôm nay chính là lời thề phải sống sao cho xứng đáng với những người đã vĩnh viễn nằm xuống dưới lòng đất mẹ.
Khúc ca hòa bình và nụ cười đi cùng năm tháng
Hơn nửa thế kỷ đi qua, bức ảnh màu thời gian năm 1972 và tấm hình chụp bên chiếc xe tăng 390 lịch sử mùa xuân năm 2025 như hai cột mốc nối liền một đời người. Nụ cười của anh lính mười tám tuổi giữa Thành cổ bom dội năm xưa nay đã thành ánh mắt hiền từ, trầm lắng của vị cựu chiến binh. Giữa không gian hòa bình rực rỡ hôm nay, nụ cười ấy vẫn còn nguyên giá trị - không chỉ vì đó là khoảnh khắc xuất thần của nhiếp ảnh lịch sử, mà vì nó chứa đựng tinh thần bất khuất của cả một thế hệ đã dâng hiến tuổi xuân cho Tổ quốc.
Hành trình trọn vẹn kiếp người của cựu chiến binh Lê Xuân Chinh - từ lời thề trích máu chia tay mẹ già làng dệt, những chuyến luồn lách độc hành dưới “cơn mưa máu” Thành cổ, giọt máu rơi nơi hào chiến Ái Tử, cho đến cuộc sống khiêm nhường và những chuyến ngược đường tri ân suốt nửa thế kỷ - chính là tượng đài sống động cho tình yêu đất nước.
Nụ cười nối liền quá khứ và hiện tại ấy không chỉ khép lại những đớn đau của một thời đạn bom khốc liệt, mà còn mở ra một tương lai ngập tràn niềm tin và hy vọng. Dù thời gian có phủ màu lên mái tóc hay nếp nhăn thời gian có hằn sâu trên khuôn mặt, thì khí chất hiên ngang cùng bầu nhiệt huyết cháy bỏng của người lính năm xưa vẫn chẳng hề phai nhạt.
Giữa nhịp sống hôm nay, hình ảnh cựu chiến binh Lê Xuân Chinh cùng bức ảnh “Nụ cười chiến thắng bên Thành cổ Quảng Trị” mãi là lời nhắc nhở nhẹ nhàng mà sâu sắc về giá trị của độc lập, tự do, và là gạch nối thiêng liêng để thế hệ trẻ hôm nay biết trân trọng, giữ gìn từng giây phút bình yên trên mảnh đất quê hương.


