Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

NỤ CƯỜI TRỞ VỀ TỪ DẢI ĐẤT THÉP BAN LONG

Trong căn nhà tình nghĩa rợp bóng mát cây xanh tại huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, ông Nguyễn Văn Tám (thường gọi là Chú Tám Tám, sinh năm 1949) đang cặm cụi chăm sóc chậu hoa lan trước hiên. Chiếc ống quần bên trái bước đi khập khiễng, bàn tay phải chỉ còn lại hai ngón nguyên vẹn do vết đạn chiến trường, nhưng nụ cười của người thương binh nặng 81% vẫn rạng rỡ và tràn đầy sức sống. Chú Tám Tám thuộc đối tượng thương binh (hạng 1/4) – một nhân chứng sống cho sự tàn khốc của chiến tranh, người đã đi qua làn mưa bom đạn, dâng hiến một phần thân thể cho nền độc lập của dân tộc nhưng chưa bao giờ coi mình là người bỏ đi.

Đồng Tháp12/08/2026Xã Tân Tiến (Đoàn xã Tân Tiến)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

NỤ CƯỜI TRỞ VỀ TỪ DẢI ĐẤT THÉP BAN LONG

Trong căn nhà tình nghĩa rợp bóng mát cây xanh tại huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, ông Nguyễn Văn Tám (thường gọi là Chú Tám Tám, sinh năm 1949) đang cặm cụi chăm sóc chậu hoa lan trước hiên. Chiếc ống quần bên trái bước đi khập khiễng, bàn tay phải chỉ còn lại hai ngón nguyên vẹn do vết đạn chiến trường, nhưng nụ cười của người thương binh nặng 81% vẫn rạng rỡ và tràn đầy sức sống.

Chú Tám Tám thuộc đối tượng thương binh (hạng 1/4) – một nhân chứng sống cho sự tàn khốc của chiến tranh, người đã đi qua làn mưa bom đạn, dâng hiến một phần thân thể cho nền độc lập của dân tộc nhưng chưa bao giờ coi mình là người bỏ đi.

1. Chàng trai biệt động và những trận đánh nghẹt thở

Năm 1967, khi vừa tròn 18 tuổi, chàng thanh niên Nguyễn Văn Tám chia tay mẹ già ở vùng quê ven sông Tiền để nhập ngũ. Với sự nhanh trí, lòng dũng cảm và thể lực dẻo dai, chú được tuyển vào Đội Biệt động Thị xã Mỹ Tho (tỉnh Mỹ Tho cũ, nay là Tiền Giang).

Địa bàn hoạt động của Đội Biệt động vô cùng nguy hiểm. Họ phải luồn sâu vào lòng địch, sống trong các căn hầm bí mật ngay dưới nương dâu, vạt dừa để tổ chức các trận đánh bất ngờ vào các đồn bốt, cơ quan đầu não của Mỹ – ngụy.

"Làm lính biệt động là xác định cái chết luôn cận kề từng giây," – chú Tám Tám nhớ lại, giọng trầm ấm đậm chất Nam Bộ. – "Chúng tôi đánh xong là rút ngay vào lòng dân. Có những ngày, lính ngụy đi càn ngay trên nắp hầm bí mật, nước đái của chúng chảy xuống cả vai mình. Nhưng anh em vẫn nín thở, tay nắm chặt quả mìn v hướng ra ngoài, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ cơ sở."

Trận đánh ghi dấu ấn sâu sắc nhất trong đời chiến đấu của chú Tám diễn ra vào đợt Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1968. Đội biệt động của chú nhận nhiệm vụ đánh chiếm và giữ vững Cầu Quay (Mỹ Tho) để đón quân chủ lực tiến vào nội đô.

Dưới hỏa lực dày đặc của xe bọc thép và máy bay đầm già của địch, chú Tám Tám cùng đồng đội đã kiên cường bám trụ suốt 3 ngày đêm, bẻ gãy hàng chục đợt phản công của đối phương, giữ vững gạch nối giao thông chiến lược.

2. Vết thương tàn khốc và nghị lực "Thương binh tàn nhưng không phế"

Tháng 4 năm 1972, trong một trận tập kích nghẹt thở vào đồn bốt địch tại dải đất thép Ban Long, đơn vị của chú Tám bị bao vây tứ phía. Để mở đường máu cho các đồng chí rút lui, chú Tám Tám đã ôm quả mìn hướng lao ra hút hỏa lực đối phương.

Một quả đạn M79 nổ ngay sát chân chú. Chú Tám gục xuống giữa làn khói súng nồng nặc, chân trái bị dập nát hoàn toàn, bàn tay phải bị mảnh đạn xé rách và mắt trái bị hỏng nặng. Đồng đội đã liều mình cõng chú vượt qua dòng sông Tiền về trạm quân y dã chiến trong tình trạng thập tử nhất sinh.

Sau nhiều lần phẫu thuật dắt díu tại chiến khu, chú Tám Tám giữ được mạng sống nhưng vĩnh viễn mất đi chân trái (phải tháo khớp đến đùi), hỏng mắt trái và tỉ lệ thương tật được xác định là 81% – thương binh hạng đặc biệt.

"Khi tỉnh dậy trên giường bệnh, thấy chân mình không còn nữa, tay thì biến dạng, tôi đã khóc rất nhiều," – chú Tám rấn rấn giọt lệ xúc động. – "Nhưng rồi nhìn sang xung quanh, thấy nhiều đồng đội đã vĩnh viễn nằm lại ở tuổi mười tám, tôi tự dặn lòng: 'Mình còn sống trở về là đã hạnh phúc lắm rồi. Bác Hồ dạy 'Thương binh tàn nhưng không phế', mình không được gục ngã'."

Chú Tám tập đi từng bước bằng chiếc nạng gỗ đơn sơ, tập viết lại bằng tay trái. Bằng nghị lực phi thường, người thương binh nặng ấy không những tự chăm sóc được bản thân mà còn hăng hái tham gia lao động sản xuất.

3. Ngọn lửa kiên cường truyền qua thế hệ trẻ

Sau ngày giải phóng 1975, chú Tám Tám trở về quê nhà Châu Thành. Chú vận động gia đình khai hoang đất bãi bồi, áp dụng kỹ thuật trồng cây ăn trái, nuôi cá để phát triển kinh tế. Cần mẫn và kiên trì, người thương binh chống nạng ấy đã tự tay dựng nên ngôi nhà tươm tất và nuôi dạy ba người con học hành đàng hoàng, trở thành những kỹ sư, bác sĩ.

Không chỉ làm kinh tế giỏi, chú Tám Tám còn là Phó Chủ tịch Hội Thương binh tỉnh Tiền Giang. Chú lặn lội đến từng nhà các đồng đội cũ có hoàn cảnh khó khăn để động viên, vận động các nguồn lực hỗ trợ mổ mắt, xây nhà tình nghĩa cho gia đình chính sách.

Căn nhà của chú Tám Tám luôn tràn ngập tiếng cười của các bạn đoàn viên thanh niên mỗi dịp tháng 7 tri ân. Ngồi bên người thương binh lão thành, nhìn chú đi lại dẻo dai trên chiếc chân giả và nghe chú kể chuyện đánh giặc bằng chất giọng hào sảng, các bạn trẻ không khỏi bàng hoàng và kính phục.

Nắm chặt bàn tay chỉ còn hai ngón nhưng vô cùng ấm áp của chú Tám, bạn Nguyễn Minh Anh – một cán bộ Đoàn trẻ – xúc động chia sẻ: — "Vết thương trên thân thể của chú Tám Tám là minh chứng cho sự hy sinh vô bờ bến của thế hệ đi trước. Nhưng điều làm chúng con khâm phục nhất chính là nụ cười kiên cường và nghị lực sống phi thường của chú. Chú chính là tượng đài sống về tinh thần không gục ngã trước khó khăn."

Chú Tám Tám mỉm cười rạng rỡ, vỗ nhẹ lên vai người cán bộ Đoàn trẻ: — "Chiến tranh đã qua đi, những vết thương rồi cũng khép miệng. Điều quan trọng nhất là thế hệ trẻ các cháu hôm nay phải giữ vững niềm tin, có chí tiến thủ. Các chú đã dâng hiến xương máu để giành lại đất nước, các cháu phải dùng trí tuệ để làm cho đất nước mình đàng hoàng, giàu mạnh hơn nhé!"

Nắng chiều vạt qua hiên nhà, chiếu rạng nụ cười rạng rỡ của người thương binh nặng. Hình ảnh chú Nguyễn Văn Tám – người lính biệt động bước ra từ khói lửa chiến tranh – sẽ mãi là tấm gương sáng ngời, truyền ngọn lửa yêu nước và nghị lực sống phi thường cho thế hệ hôm nay và mai sau.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
NỤ CƯỜI TRỞ VỀ TỪ DẢI ĐẤT THÉP BAN LONG | Câu chuyện thời hoa lửa