Nữ điệp báo Sáu Dung và những lá thư “xuyên rừng, vượt biển”
Bà Phạm Thị Điểm (còn gọi là Sáu Dung), nguyên cán bộ Cục Nghiên cứu - Bộ Tổng tham mưu (nay là Tổng cục ii) từng nhiều lần xuyên Trường Sơn, vượt Biển Đông đột nhập vào hang ổ địch làm nhiệm vụ đặc biệt... Năm 1954, khi đang là cán bộ phụ nữ huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, bà đã phải tạm biệt chồng và hai con nhỏ để tập kết ra Bắc, trong khi chồng bà - ông Lê Long Châu, Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Quảng Ngãi - được tổ chức bố trí ở lại miền Nam hoạt động bí mật...
Bà Phạm Thị Điểm (còn gọi là Sáu Dung), nguyên cán bộ Cục Nghiên cứu - Bộ Tổng tham mưu (nay là Tổng cục ii) từng nhiều lần xuyên Trường Sơn, vượt Biển Đông đột nhập vào hang ổ địch làm nhiệm vụ đặc biệt... Năm 1954, khi đang là cán bộ phụ nữ huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, bà đã phải tạm biệt chồng và hai con nhỏ để tập kết ra Bắc, trong khi chồng bà - ông Lê Long Châu, Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Quảng Ngãi - được tổ chức bố trí ở lại miền Nam hoạt động bí mật. Ra Hà Nội công tác khi đang mang thai người con út cùng tâm tư trĩu nặng “ngày Bắc đêm Nam”, bà Điểm chỉ có dịp tâm sự cùng chồng, con qua những lá thư mỏng manh, dù không nhiều những trang thư như vậy vượt qua được vĩ tuyến 17 để tới tay người nhận.
Sau hơn 50 năm, người cán bộ Tỉnh ủy Lê Long Châu đã hy sinh, còn nữ Đại úy tình báo Phạm Thị Điểm cũng đã thành người thiên cổ, nhưng những lá thư trong thời kỳ bà Điểm làm nhiệm vụ “xuyên rừng, vượt biển” vẫn đang được gìn giữ cẩn thận. Chúng tôi đã tìm gặp những người thân trong gia đình và được Đại tá, cựu chiến binh Lê Văn Trọng - người bạn đời sau này của bà Điểm kể lại: “Hồi còn sống, những lúc rảnh rỗi, bà Điểm từng tỉ mẩn ngồi chép lại những lá thư đã sờn mép và nhòe mực của người chồng liệt sĩ để lưu giữ, coi đó như những kỷ vật quý của gia đình...”.
“Em hãy đặt tên con để nhớ ơn nước bạn”
Lật giở những trang thư được viết khi đất nước đang ở những ngày đầu bị chia cắt, người đọc nhận thấy bao nỗi nhớ, niềm thương và cả những mong mỏi từng được người viết trải lòng từ cách đây hơn nửa thế kỷ. Trong lá thư gửi từ Quảng Ngãi ngày 18-8-1957, với quy ước riêng ở đầu thư là “Nam gửi Điểm”, ông Lê Long Châu đã viết:
“Không gì vui và sung sướng bằng khi nhận được thư em cùng hai tấm hình em gửi. Thấy em khỏe mạnh, thấy con ngoan ngoãn dễ thương và được tin anh chị em vẫn sống yên vui trên miền Bắc, anh mừng lắm.
|
Bà Phạm Thị Điểm và hai chiến sĩ trinh sát trên đường Trường Sơn năm 1972. Ảnh do gia đình cung cấp |
Đọc thư em, thấy được tình cảm tha thiết em dành cho gia đình và quê hương yêu dấu. Anh biết, em càng lo lắng cho mẹ, cho anh và con bao nhiêu thì chắc em cũng sẽ nóng lòng trông ngóng tin anh bấy nhiêu... Anh vẫn mạnh khỏe, mặc dù sống trong hoàn cảnh khó khăn nhưng đã có anh em, có cả nhân dân yêu thương che chở nên rất phấn khởi hoàn thành nhiệm vụ. Hầu hết bà con đều tốt, thường giúp đỡ công việc cho chúng ta. Những gia đình có con em đi tập kết thì vẫn đang ngày đêm trông ngóng, mong sớm tới ngày thống nhất để được gặp lại người thân”.
Năm 1955, sau khi ra Hà Nội, bà Điểm có biên thư thông báo cho chồng, nhưng vì điều kiện hoạt động bí mật nên ông Châu không tiện viết thư cho vợ. Vì thế, mà mãi tới tháng 8-1957 ông Châu mới có thư để “thanh minh” với người vợ yêu dấu:
“Em! Tình cảm của chúng ta bị chia cắt, chúng ta thương nhau, nhớ nhau mà không thể gặp nhau, không thể trao đổi thư từ thăm hỏi nhau... Càng nghĩ mà càng thấy chua xót và căm thù bọn Mỹ-Diệm hung tàn bạo ngược đang âm mưu kéo dài việc chia cắt nước ta.
Gần ba năm xa cách, lúc em ra đi, anh không có dịp tiễn chân, căn dặn, hẹn hò... Và từ ấy đến nay cũng không có thư từ gì của anh, chắc em khổ tâm lắm. Nhưng anh và em mỗi người đều có nhiệm vụ riêng, đó là kiến thiết miền Bắc và góp phần đấu tranh chính trị ở miền Nam. Mong sao sớm đến ngày Bắc Nam thống nhất, thư từ được thuận lợi và chúng ta sớm gặp lại nhau...”.
Ngoài những lời quan tâm, động viên gửi tới người vợ đang bụng mang dạ chửa, ông Châu còn gợi ý việc đặt tên con để nhớ ơn các nước bạn trong Ủy hội quốc tế đã giúp ta vận chuyển cán bộ tập kết:
“Em đã lựa đặt tên cho con là gì chưa? Nếu chưa thì anh góp ý đặt tên là Lan hay Xô gì cũng được, em đi tàu của nước nào thì đặt theo tên của nước ấy để kỷ niệm và nhớ ơn các nước bạn của chúng ta” (Thư ngày 18-8-1957).
Theo lời kể của Đại tá Lê Văn Trọng, do nhận thư của ông Châu muộn nên khi sinh người con út, bà Điểm đã đặt tên con là Lê Long Thành. Sau này lớn lên, khi nghe mẹ kể lại chuyến tập kết ra Bắc trên chuyến tàu của Ba Lan ở cảng Quy Nhơn, Lê Long Thành đã xăm chữ “Lan” cùng hình chiếc mỏ neo và hai chữ “Q.N” trên cánh tay để nhớ tới lời dặn của cha trong lá thư gửi mẹ...
|
Lá thư của người chồng liệt sĩ (viết ngày 18-8-1957) được bà Điểm chép lại để lưu giữ.Ảnh: Quang Huy |
Lại dài thêm những nỗi đau
chia cắt...
Đầu năm 1958, bà Điểm hay tin chồng mình bị địch bắt, tra tấn dã man và hy sinh trong nhà tù tỉnh Quảng Ngãi. Cùng với nỗi đau “núi cách sông ngăn” giữa đôi bờ giới tuyến, gia đình bà lại phải nén chịu nỗi đau con mất cha, vợ mất chồng. Đọc thư của một người đồng đội gửi từ quê nhà, bà tưởng như đứt từng khúc ruột:
“Thím Điểm thân mến!
Bây giờ tôi kể qua về chú cho thím rõ. Sau khi chú vượt ngục ra được 3 ngày, lần về gần đến cơ sở ở Tịnh Thọ, giáp Bình Thới thì không may gặp phải tên phản động đuổi bắt chú. Vì người yếu, trong tay không có vũ khí, lại 3 ngày liền không có hạt cơm nên bị chúng bắt đem về tỉnh. Chúng tra tấn, hành hạ chú cực kỳ dã man cho đến chết...
Chú mất đi là một thiệt thòi cho tổ chức và nhân dân, nhưng cũng đã làm tăng thêm lòng quyết tâm chiến đấu để tiêu diệt kẻ thù, giải phóng xứ sở, trả thù cho những người đã hy sinh. Riêng tôi, chú hy sinh, tôi mất đi một người bạn thân, một người đồng chí giản dị, bình tĩnh và cương quyết. Còn với thím và các cháu, đây quả là một đau đớn, thiệt thòi lớn. Nhưng thím ạ, trong cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt giữa ta và địch hiện nay, chúng ta hãy biến lòng căm thù thành sức mạnh, biến đau thương thành hành động để xứng đáng với những người đã hy sinh” (Thư ngày 28-12-1959).
Nén đau thương và khắc phục mọi khó khăn, Phạm Thị Điểm vừa một mình nuôi con nhỏ, vừa làm tròn nhiệm vụ cấp trên giao phó. Bà đã xuyên Trường Sơn vào chiến trường B2 làm nhiệm vụ của một giao thông viên và được Phòng Tình báo Miền (J22) giao nhiệm vụ vào Sài Gòn bắt liên lạc với các cán bộ điệp báo. Từ trong lòng địch, qua những lá thư gửi về cho các con, bà vẫn không nguôi nỗi đau mất chồng:
“Vân, Thanh, Thành con!
Kẻ địch đã cướp mất ba của các con rồi! Từ nay ba sẽ không còn gần các con nữa, nhưng tinh thần, dũng khí cách mạng kiên cường, bất khuất không bao giờ phai nhạt trong tâm trí má, tâm trí các con và trong lòng nhân dân... Các con hãy cố gắng chăm sóc bà ngoại những lúc bà đau ốm và đi theo cách mạng để trả thù cho ba. Má cũng quyết tâm công tác thật tốt, dù trong hoàn cảnh nào má cũng sẽ làm tròn nhiệm vụ Đảng giao để quyết trả thù cho dân tộc và trả thù cho Ba của các con” (Thư ngày 1-1-1966).
Vào Nam hoạt động trong lòng địch, bà Điểm đã dành khá nhiều tình cảm cho người con được sinh ra và lớn lên ở miền Bắc bởi khi chồng bà hy sinh, người con út vừa mới lên ba tuổi, còn chồng bà cũng chưa một lần biết mặt con... Trong lá thư viết vào đêm 31-3-1966, bà đã tâm sự với con trai:
“Thành con!
Má thương và nhớ con nhiều! Con còn nhỏ nhưng con ngoan lắm! Má không sao quên được câu nói của con trong một đêm khuya thanh vắng: “Má thương con thì má hãy công tác tốt, con thương má thì con sẽ học giỏi”. Đêm khác, con lại bảo: “Má thức khuya, rồi lại dậy sớm như thế thì má ốm mất, làm sao công tác được...”. Giờ đây, những câu nói ấy vẫn in sâu trong tâm trí má. Con ạ, dù trong hoàn cảnh nào má cũng sẽ công tác tốt và xứng đáng là người mẹ hiền của con. Ở ngoài đó, con hãy cố gắng học thật giỏi và ngoan ngoãn nghe lời các bác, các cô chú, các thầy, cô... để phấn đấu trở thành cháu ngoan Bác Hồ và là con ngoan của má...”.
Từ tháng 7-1972 đến tháng 2-1973, bà Điểm được cấp trên giao nhiệm vụ đặc biệt: Vào Sài Gòn tìm kiếm một cán bộ tình báo bị mất liên lạc. Khi ấy, bà lại tạm biệt đứa con út đang học tại Trường học sinh miền Nam (Đông Triều, Quảng Ninh), nhiều lần bà vượt biển Đông vào Nam, ra Bắc để xác định tung tích, sau đó mang tấm căn cước giả vào “giải cứu” đồng đội là Tổ trưởng điệp báo Lê Văn Trọng.
“Bà Điểm hiểu rất rõ hoàn cảnh éo le của tôi: vợ tôi bị địch tra tấn và hy sinh trong tù khi đứa con trai là Lê Văn Hùng vừa mới lên 5 tuổi. Vì vậy khi trên đường tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, ngày 11-4-1975, bà Điểm đã tìm tới địa chỉ gia đình tại Đà Nẵng để báo tin cho mẹ vợ và đứa con trai biết tin tôi vẫn còn sống sau gần 10 năm xa vợ, xa con mà không một dòng nhắn gửi”, ông Trọng nhớ lại.
Sau những năm dài cách biệt, ông Trọng đã đón người con duy nhất từ Đà Nẵng về sum họp trong mái ấm mà hai thương binh-hai chiến sĩ trên “trận tuyến thầm lặng” đang cùng nhau nương tựa. Nơi ấy, Lê Văn Hùng đã phần nào nguôi nỗi đau khi được người mẹ thứ hai Phạm Thị Điểm luôn yêu mến, cảm thông và coi như con đẻ của mình...





