NỮ DU KÍCH HOÀNG NGÂN, MỘT PHONG TRÀO PHỤ NỮ KHÁNG CHIẾN ĐẶC SẮC VÙNG ĐỊCH HẬU HƯNG YÊN
Đoạn kể nói về sự ra đời và phát triển của lực lượng nữ du kích Hoàng Ngân ở Hưng Yên từ năm 1951. Lực lượng phụ nữ không chỉ tham gia trinh sát, liên lạc, địch vận mà còn đảm bảo hậu cần, cứu thương, nuôi dưỡng thương binh và hỗ trợ bộ đội chiến đấu. Phong trào này trở thành một lực lượng quan trọng góp phần vào thắng lợi của kháng chiến ở địa phương.
Xuất phát từ đánh giá vị trí, tầm quan trọng, khả năng kháng chiến của phụ nữ vùng địch hậu, nghị quyết Tỉnh ủy Hưng Yên hồi tháng 12-1950 đề ra phải coi trọng xây dựng, phát triển nữ du kích đồng thời với việc củng cố về tổ chức lực lượng vũ trang.
Trong hoàn cảnh địch hậu, nam thanh niên ở các thôn xã trở nên thiếu vắng, hoặc là họ đi theo kháng chiến, vào bộ đội hoặc họ bị bắt đi làm ngụy binh cho giặc, cho nên còn lại ở nhà, lực lượng phụ nữ, đặc biệt nữ thanh niên trở thành lực lượng hùng hậu đáng kể, thay nam giới làm các công việc đồng áng hoặc tham gia nhiều công việc của kháng chiến giao cho. Phụ nữ lại có khả năng hoạt động công khai với giặc, có lợi thế hơn nam giới rất nhiều. Đúng lúc Tỉnh ủy chuyển hướng công tác, để giữ vững và phát triển cơ sở, coi trọng công tác đấu tranh hợp pháp đi đôi với đấu tranh nửa hợp pháp và bất hợp pháp với kẻ địch thì việc huy động quần chúng vào việc đấu tranh công khai hợp pháp với địch, thúc đẩy kháng chiến tiến triển, không tầng lớp nào có khả năng bằng phụ nữ. Ngoài ra, từ thời Hai Bà Trưng, Bà Triệu, một chiều dài lịch sử hàng ngàn năm, phụ nữ Việt Nam nói chung, phụ nữ Hưng Yên nói riêng đều có truyền thống quý báu yêu nước thương nòi, một lòng một dạ kiên trung với chồng con, với nước.
Triển khai nghị quyết của Tỉnh ủy, rút từ những kinh nghiệm trước về tổ chức nữ du kích, Tỉnh đội và Ban chấp hành phụ nữ tỉnh cùng phối hợp tổ chức một mô hình tổ chức như sau: Ban chấp hành phụ nữ các cấp có trách nhiệm tổ chức, động viên hội viên của mình tự nguyện tham gia du kích ở thôn, xã, luôn theo dõi nuôi dưỡng phong trào, coi đó là mũi nhọn công tác kháng chiến của phụ nữ. Cơ quan quân sự các cấp có trách nhiệm tổ chức chị em thành những tổ đội nữ du kích riêng song song với nam du kích. Những tổ nữ du kích này không thoát ly khỏi sản xuất, vẫn là người dân bình thường. Khi giặc chưa tới vẫn sinh hoạt đều đặn với đoàn thể phụ nữ, nhưng khi có giặc hoặc khi huấn luyện quân sự thì đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của xã đội trưởng dân quân.
Để sự phối hợp được chặt chẽ, ở cấp xã, Ban chấp hành phụ nữ cử hẳn một ủy viên có sức khỏe và khả năng quân sự sang nhận chức xã đội phó đặc trách chỉ đạo và chỉ huy nữ du kích; ở cấp huyện thì cử một vài cán bộ nữ sang làm cán sự dân quân của huyện đội, ở cấp tỉnh cử một ủy viên thường xuyên liên lạc và cùng với cơ quan quân sự thống nhất chỉ đạo phong trào nữ du kích. Cụ thể, Tỉnh hội phụ nữ Hưng Yên đã cử chị Thu Thịnh lúc đó là Hội phó phụ nữ sang cùng với Tỉnh đội Hưng Yên đặc trách chỉ đạo phong trào nữ du kích.
Tỉnh đội Hưng Yên đã nghiên cứu các hình thức công việc chiến đấu trong tình hình cụ thể lúc đó nhằm phát huy lợi thế của nữ du kích và phù hợp với khả năng tâm-sinh lý của phụ nữ, nhằm động viên phụ nữ hoạt động kháng chiến từ thấp đến cao, theo hoàn cảnh từng người, do đó mà gây được lòng tự tin cho chị em đóng góp phần mình cho công việc kháng chiến. Tỉnh đội đã xây dựng một giáo trình huấn luyện, rồi cùng với Tỉnh hội phụ nữ tổ chức những lớp tập huấn, huấn luyện quân sự dành riêng cho các cán bộ phụ nữ sắp tới chuyển sang công tác quân sự. Từ tháng 1 đến tháng 3/1951, đã tổ chức được hai lớp huấn luyện, mỗi lớp từ 60 - 80 cán bộ nữ du kích, tiến hành tại huyện Hưng Nhân (Thái Bình) do chị Thu Thịnh trực tiếp phụ trách hướng dẫn. Sau đó, một số huyện và xã cũng tổ chức một số lớp huấn luyện tương tự nhưng chương trình và thời gian rút gọn hơn.
Về chương trình, ngoài những vấn đề chung như kháng chiến trường kỳ, công tác đoàn thể phụ nữ, kỹ thuật quân sự (bắn súng, ném lựu đạn, v.v...), lớp học tập trung vào những vấn đề thật sự hợp với khả năng của nữ giới, đại loại như đảm bảo chiến đấu, đảm bảo hậu cần cho bộ đội, các cách đánh du kích v.v... Về đảm bảo chiến đấu, triệt để tận dụng khả năng hoạt động công khai của phụ nữ, thực hành công tác điều tra tình hình địch ở thị xã, thị trấn, đồn bốt địch, thông tin liên lạc; ban ngày khi bộ đội trú quân cần che mắt quân địch, cùng bộ đội đào công sự, kể cả hầm bí mật, khi cần thiết phá hoại đường sá. Về đảm báo hậu cần: làm cấp dưỡng nấu ăn, làm hậu cần trong chiến đấu, tổ chức lực lượng thu dọn chiến trường như vận tải, cứu thương, nuôi thương binh, mang vác chiến lợi phẩm, thành lực lượng trực tiếp ở sát sau tuyến chiến đấu của bộ đội.
Công tác hậu cần tại chỗ này xem ra rất bình thường, nhưng lại vô cùng quan trọng, không thể thiếu được trong thực hành chiến đấu. Nó bảo đảm cho bộ đội nâng cao quân số trực tiếp cầm súng chiến đấu tới gần 100% gọn nhẹ, đảm bảo tính cơ động rất cao, đặc biệt những công việc này hoàn toàn phù hớp với khả năng của phụ nữ, ai cũng có thể làm được. Về các cách đánh du kích, tùy theo khả năng của từng người, từng nơi, đặc biệt chú trọng công tác vận động binh lính địch (địch vận) quay súng trở về với kháng chiến và cách đánh hóa trang diệt địch. Phương pháp huấn luyện theo cách nêu vấn đề để học viên trao đổi, thảo luận, qua đó giúp cho chị em tự thấy công tác quân sự có nhiều mặt, nhưng có không ít việc chị em có thể làm tốt được, miễn là mình có lòng yêu nước, dũng cảm, xây dựng cho chị em lòng tự hào, tự tin vào khả năng của mình.
Về tên gọi, theo gợi ý của Tỉnh ủy, chị Thu Thịnh phụ trách lớp thay mặt Ban chấp hành Tỉnh hội phụ nữ thống nhất với Tỉnh đội đặt tên lớp học là "Hoàng Ngân” để kỷ niệm tên một lãnh tụ nữ vừa mới từ trần1 (Chị Hoàng Ngân (1921-1949), tên thật là Phạm Thị Vân, sinh ra trong một gia đình tiểu thương ở phố Savatxiơ (phố Quang Trung, Hải Phòng hiện). Ngay từ thời Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1936-1939), chị đã tham gia hoạt động thanh niên. Năm 17 tuổi được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1939, chị bị Pháp bắt. Năm 20 tuổi ra tù, tham gia Ban thường vụ Hội phụ nữ giải phóng Bắc kỳ. Tháng 1-1941 chị bị địch bắt ở Hà Đông, rồi bị kết án 12 năm tù giam tại Hỏa Lò, Hà Nội. Tháng 3-1945 chị làm Bí thư Đoàn thanh niên Cứu quốc tại Hà Nội, ủy viên Thành bộ Việt Minh. Cuối năm 1947, chị là Bí thư Trung ương lâm thời Đoàn phụ nữ Cứu quốc Việt Nam. Năm 1949, Hoàng Ngân mất tại Việt Bắc, vừa tròn 29 tuổi). Sau đó, học viên về tổ chức các đội nữ du kích, xã nọ theo xã kia, tự gọi là nữ du kích Hoàng Ngân, dần dà trở thành phong trào rộng khắp tỉnh. Cái tên Hoàng Ngân trở nên rất trìu mến, hãnh diện với chị em du kích, đến nỗi thường gọi là nữ Hoàng Ngân hoặc em là Hoang Ngân, vừa để phân biệt với du kích nam giới, vừa để phân biệt với hội viên Hội phụ nữ nói chung.
| Việc tổ chức lớp huấn luyện quân sự dành riêng cho cán bộ nữ du kích của ban chấp hành Tỉnh hội phụ nữ kết hợp chặt chẽ với Tỉnh đội Hưng Yên được sự chuẩn bị và hướng dẫn chu đáo, đã đem lại kết quả nhanh chóng, rộng khắp, biến thành phong trào sâu rộng, thiết thực, có tác dụng lớn cho sự nghiệp kháng chiến của Hưng Yên hồi đó. Tất nhiên, trước khi có nghị quyết của Tỉnh ủy về xây dựng nữ du kích Hoàng Ngân, không phải phụ nữ không tham gia một tí gì cho kháng chiến, ngược lại cũng có nhiều gương chiến đấu và phục vụ chiến đấu tốt, nhưng đó chỉ là hành động lẻ tẻ, thiếu sự chỉ đạo xuyên suốt. Nay du kích Hoàng Ngân lại được đoàn thể phụ nữ quan tâm, thường xuyên giáo dục, động viên và được cơ quan quân sự các cấp chỉ đạo và chỉ huy các mặt công tác, chiến đấu và đàm bảo chiến đấu, cho nên phong trào có sức sống khá sôi nổi. Lực lượng dân quân, du kích ở các xã tăng lên hẳn về số lượng và chất lượng, tự nhiên có sự thi đua sôi nổi giữa nam du kích và nữ du kích, thậm chí giữa nữ du kích và bộ đội đều là những thanh niên đầy sức sống. Bộ đội địa phương hầu như giao toàn bộ công tác bảo đảm hậu cần cho nữ du kích Hoàng Ngân. Bộ đội về tới thôn nào, phân tán tới nhà nào, cũng có chị em giúp cho việc thổi cơm, nấu nước, lo việc ăn uống chu đáo. Bộ đội muốn trú quân bí mật, cất giấu lực lượng mà vẫn nắm được tình hình địch, đã có chị em cử người tới giả đi chợ hoặc đi phu ở đồn bốt xem địch có động tĩnh gì kịp về báo gấp cho cấp chỉ huy; hoặc đi cấy, đi chăn trâu ở đầu làng làm nhiệm vụ cảnh giới cho bộ đội. Muốn đánh tiêu diệt đồn nào thì chọn một chị giao cụ thể trinh sát trong đồn địch, trinh sát ụ súng, trận địa, nhà cửa, quy luật tuần tra, ăn ngủ của địch. Em Đào Thị Liêm mới 15 tuổi thường đi phu cho địch ở bốt Vân Trì (em người làng Hồng Vân Ngoại ở gần bốt này), theo yêu cầu của bộ đội nắm từng khẩu pháo, xe tăng, từng nhà ở của địch, giúp cho bộ đội vẽ được sơ đồ, lên được sa bàn, nên bộ đội đã tiêu diệt được vị trí Vân Trì gồm một tiểu đoàn hỗn hợp có xe tăng, pháo binh hạng nặng vào đêm 15-8-1953. Em Liêm sau này được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua và thưởng huân nhương Chiến công. Kế hoạch tốc chiến của bộ đội bao giờ cũng có 2 phần: Phần 1 là kế hoạch tác chiến của bộ đội, phần 2 gồm kế hoạch bảo đảm hậu cần, bao gồm kế hoạch tiếp đạn, tải thương, thu dọn tử sĩ, chiến lợi phẩm, tiếp giải tù binh. Các trận đánh vị trí địch, thông thường số lượng hậu cần bằng hoặc hơn lực lượng trực tiếp chiến đấu, ít thì vài chục, nhiều thì hàng vài trăm, tại các trận đánh lớn như Bần Yên Phú, Vân Trì, Dị Sử... trong đó lực lượng du kích Hoàng Ngân chiếm tuyệt đại đa số. Điển hình chăm sóc, nuôi dưỡng thương binh phái kể đến các bà, các chị nữ du kích Hoàng Ngân ở 3 xã thuộc huyện Khoái Châu là Ninh Tập, Đại Tập, Mạn Trù Châu. Từ năm 1952 cho tới năm 1954 khi hòa hình lập lại, các mẹ, các chị 3 xã này thường xuyên nuôi dưỡng từ 30 - 50 thương binh. Ban quân y Tỉnh đội chỉ bố trí bác sĩ, y tá để giải quyết các việc chuyên môn, hậu cần chỉ có 1 quản lý chuyên lo việc thanh toán, đảm bảo chế độ, còn mọi việc từ hộ lý, cơm nước, phục vụ thương binh, hầm bí mật cho thương binh, thậm chí cử người lên Hà Nội mua thuốc men theo con đường hợp pháp đều giao cho nữ du kích Hoàng Ngân. Thành tích nuôi dưỡng thương binh một cách bền bỉ, thắm tình quân dân đó đã được tặng thưởng huân chương ngay từ năm 1953 (đáng tiếc là trong báo cáo không nêu rõ thành tích của cả 3 xã thuộc khu vực xã Mạn Trù Châu, nên huân chương chỉ trao cho xã Mạn Trù Châu, thật là một thiếu sót không đáng có). Hồi đầu tháng 6-1951, khi mở khu du kích bắc Tiên Lữ, bọn địch ở bốt Phố Dung cắm trên đường số 20 giữa chợ Thi và phố Giác, sợ hãi bỏ chạy. Chúng tôi trên đường rút quân phát hiện thấy địch đã rút chạy, khi về tới xã Minh Hoàng (huyện Phù Cừ) đã yêu cầu xã đội huy động dân quân du kích tới san phẳng bốt trong đêm, không cho địch chiếm đóng trở lại. Ra tới sân đình thôn Hoàng Tranh, tôi thấy toàn là nữ du kích Hoàng Ngân, người mang cuốc, kẻ mang xẻng, đang chăm chú lắng nghe chị Ái là xã đội phó truyền lệnh rất rõ ràng khúc chiết, sau đó cá đội khoảng trên 50 người lặng lẽ bí mật nhưng hùng dũng ra phía bốt Dung cách đó khoang một cây số và chị em đã phá xong ngay trong đêm. Tôi cũng rất xúc động trước lời lẽ linh hoạt lanh lảnh của người nữ chỉ huy là chị Ái, rất tiếc là tôi không nhớ họ của chị, chắc rằng chị sẽ sống hạnh phúc và ngày nay sau hơn 40 năm, cuộc đời đã phôi pha chắc chị đã thành bà rồi. Lại có một chị làm công tác mật giao (địch vận) vào bốt Thiết Trụ (Khoái Châu) thuyết phục được tay sếp bốt tên là Liễu quay về với kháng chiến, đưa bộ đội vào chiếm bốt, bắt hết binh lính trong đồn, thu toàn hộ vũ khí hồi tháng 1-1952. Về sau chị và anh Liễu kết hôn với nhau đẻ một đứa con và yên ổn làm ăn. Cuốn "Lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp trên địa bàn Hải Hưng" (trang 373, 374) đã kẻ nhiều gương chiến đấu của nữ du kích Hoàng Ngân các xã, các huyện Phù Cừ, Tiên Lữ, Kim Động, Khoái Châu, Yên Mỹ, Văn Lâm... Kể được khá nhiều chuyện, nhưng theo tôi chắc chắn vẫn chưa đủ mà chỉ đưa ra được một số mẩu chuyện điển hình thôi. Bởi vì đây là một phong trào rộng khắp, hoạt động hết sức đa dạng phong phú, từ việc đảm bảo hậu cần, tải thương, nuôi dưỡng thương binh, bảo vệ cán hộ, tới việc trực tiếp tham gia đánh Tây một cách độc lập hoặc phối hợp với nam du kích và bộ đội, cũng như làm địch vận, làm công tác bảo đảm chiến đấu cho bộ đội như quân báo, liên lạc, làm công sự... Tới đâu, bất kỳ ở thôn nào, chị em đã sóng thời kỳ những năm 1950 đều hồ hởi ôn lại chuyện cũ mà mình đã góp phần cho công cuộc kháng chiến, rất tự hào và hãnh diện. Phong trào nữ du kích Hoàng Ngân đã để lại một dấu ấn không thể phai mờ trong ký ức của người dân tỉnh Hưng Yên xưa trong sự nghiệp kháng chiến chống Pháp. |


