“Nữ kiệt miền Đông” Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân Hồ Thị Bi
“Nữ kiệt miền Đông” Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân Hồ Thị Bi
Hồ Thị Bi tên thật là Hồ Thị Hoa, sinh năm 1916 trong một gia đình nghèo tại làng Tân Hiệp, huyện Hóc Môn, tỉnh Gia Định (nay là thành phố Hồ Chí Minh). Cha bà mất sớm, khi bà mới 6 tuổi, mẹ bà mắc bệnh nặng, bà phải phụ giúp bán chè, nước để sinh nhai. Năm lên 10, bà phải đi ở đợ để kiếm tiền nuôi mẹ, nuôi em.
Sau khi lập gia đình, chịu ảnh hưởng từ chồng, bà sớm tham gia hoạt động trong Hội Ái hữu tương tế Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Tháng 6/1936, Hồ Thị Bi được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.
Năm 1939, phong trào Dân chủ Đông Dương bị chính quyền thực dân Pháp đàn áp. Chồng bà bị bắt do liên quan đến vụ đình công ở Hóc Môn. Mặc dù vậy, bà vẫn bí mật hoạt động, làm liên lạc cho cán bộ Cộng sản. Năm 1941, bà tham gia Hội Phụ nữ Cứu quốc Hóc Môn. Để chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám, bà được Quận ủy Hóc Môn giao nhiệm vụ làm Trưởng ban tiếp tế và chỉ huy Đại đội nữ binh thị trấn Hóc Môn rồi làm Phó Hội trưởng Hội Phụ nữ cứu quốc. Ngày 25/8/1945, bà cùng đoàn biểu tình từ Hóc Môn kéo về Sài Gòn giành chính quyền.
Khi thực dân Pháp nổ súng tái chiếm Nam Bộ, với vai trò Trưởng ban tiếp tế quận Hóc Môn, bà phụ trách tiếp tế các mặt trận Tham Lương, Bến Phân, Chợ Cầu cho Giải phóng quân liên quận Hóc Môn – Bà Điểm – Đức Hòa. Trước sức mạnh của quân Pháp, các mặt trận đều bị vỡ, lực lượng chống Pháp đều phải rút ra ngoại vi để hoạt động kháng chiến.
Do có ba con nhỏ, chồng đang công tác tại Ban An ninh quận, tổ chức khuyên bà về nhà làm ăn, nuôi con. Hai lần đề bạt ý nguyện tham gia kháng chiến nhưng đều bị từ chối, bà buộc phải giải ngũ về nhà. Không cam tâm đứng ngoài cuộc chiến, bà tập hợp những người có cùng hoàn cảnh muốn tham gia kháng chiến nhưng phải giải ngũ thành một Đội tuyên truyền vũ trang, vừa sản xuất vừa tham gia đánh giặc, mang tên là Đội công tác xã Thới Tứ. Đây chính là tiền thân của Đại đội 2804, Ban công tác Thành số 12.
Đội công tác của bà gồm 2 nam, 2 nữ và 1 thiếu niên, thực hiện liên tiếp các trận đánh bằng lựu đạn vào quân Pháp và các đối tượng chức sắc cộng tác với chính quyền Pháp tại Hóc Môn, Nhà Việc, Chùa Ông, Chợ cầu. Đặc biệt, trong trận đánh ngày 12/12/1945, Đội công tác của bà đã tiêu diệt được một tiểu đội lính Pháp, được Ban Chỉ huy Giải phóng quân Liên quận gửi giấy khen và tặng một khẩu súng ngắn 7,65 ly.
Nhờ những trận đánh này, uy tín Đội công tác của bà ngày càng lên cao, có thêm nhiều người gia nhập. Tên tuổi của Năm Bi (Hồ Thị Bi) bắt đầu được nhiều người biết đến. Với số vũ khí thu được, bà dần xây dựng thành một đội quân chiến đấu độc lập, xây dựng căn cứ tại Rỗng Ông Hồ. Đội công tác của bà được Tổng Tư lệnh giải phóng quân Nam Bộ Nguyễn Bình công nhận là một đơn vị chính thức với tên gọi Đại đội 2804, Chi đội 12, Ban Công tác Thành.
Bà còn tổ chức cả một Tiểu đội gồm các hàng binh trong quân đội Pháp. Với đội quân này, bà đã tổ chức nhiều trận tập kích, khủng bố trong vùng quân Pháp kiểm soát, làm đối phương cũng phải nể phục.
Năm 1948, Hồ Thị Bi được cử làm Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 935, Trung đoàn 312. Hai năm sau, bà cùng với 30 đồng chí, phần lớn là thương bệnh binh, được giao nhiệm vụ xây dựng căn cứ Dương Minh Châu, mở đường nối liền căn cứ địa với Campuchia.
Tại vùng biên giới, bà đã tổ chức hoạt động tiếp tế thành công, tạo tiền đề cho sự phát triển của căn cứ Dương Minh Châu về sau. Bà rất chú trọng hoạt động tuyên truyền vận động quần chúng. Vì vậy, Hồ Thị Bi được người dân Khmer vùng này kính trọng gọi bằng tên gọi Lục Thum Bi.
Năm 1953, bà được cử tham gia đoàn công tác ra Việt Bắc. Tại đây, lần đầu tiên bà được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, được Người đặt biệt danh “Nữ kiệt miền Đông” và được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhất.
Chưa kịp trở về miền Nam thì Hiệp định Giơ ne vơ được ký kết, bà được phân công công tác tại bộ phận chuẩn bị đón tiếp đồng bào, chiến sĩ miền Nam tập kết ra Bắc.
Năm 1956, bà được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Năm 1959, bà được phong quân hàm Đại úy.
Năm 1960, bà được giới thiệu ứng cử Đại biểu Quốc hội tỉnh Hòa Bình. Bà đã trúng cử hai khóa liên tiếp. Năm 1963, bà đã trồng một cây đa để kỷ niệm tại ngã ba xã Hùng Tiến, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình. Từ đó, người dân địa phương gọi ngã ba này là ngã ba Hồ Thị Bi và cây đa bà Bi.
Trong 12 năm làm công tác chính sách, bà phụ trách, quản lý gia đình hậu phương quân đội để cán bộ, chiến sĩ ở tiền phương yên tâm chiến đấu. Trong những năm chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất của Đế quốc Mỹ, bà được giao nhiệm vụ sơ tán con em liệt sĩ, con em cán bộ đang tham gia chiến đấu ra khỏi Thủ đô Hà Nội.
Năm 1965, Bà được thăng quân hàm Thiếu tá, trở thành nữ quân nhân đầu tiên có cấp bậc quân hàm cao nhất trong Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Ngày 15/12/1973, bà quay trở lại miền Nam với tư cách là Đặc phái viên của Cục Chính sách – Tổng cục Chính trị bên cạnh Bộ Chỉ huy Miền với quân hàm Trung tá.
Trong hai năm 1974, 1975, bà đảm nhận vị trí Phó Chủ nhiệm Chính trị, Bộ Tư lệnh thành phố Hồ Chí Minh.
Năm 1978, bà được phong quân hàm Thượng tá. Mặc dù ngoài 60 tuổi, bà vẫn được giữ lại làm công tác chính sách cho cán bộ, chiến sĩ và các cựu chiến binh cũng như gia đình của họ.
Năm 1960, bà nghỉ hưu với quân hàm Đại tá, được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân Việt Nam.
Sau khi nghỉ hưu, Bà vẫn tiếp tục hoạt động xã hội, là một trong những sáng lập viên của Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ, là Ủy viên Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
Bà qua đời lúc 20 giờ 30 phút, ngày 12/10/2011 tại thành phố Hồ Chí Minh.
Với tấm lòng son sắt với Đảng, với cách mạng, tinh thần tự lập, kiên trì vượt lên mọi khó khăn, bà đã chỉ huy, lập nhiều chiến công hiển hách xứng đáng với danh hiệu “Nữ kiệt miền Đông” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành tặng./.


