Bài viết

Nữ Kiệt Miền Đông Hồ Thị Bi – Tấm Gương Bất Khuất Của Phụ Nữ Việt Nam

"Lịch sử ghi nhận rất nhiều người phụ nữ bất khuất, có người là huyền thoại, có người là nhân vật bằng xương bằng thịt. Nếu muốn tìm kiếm hình mẫu một hổ tướng hội tụ trọn vẹn sự kiên cường và táo bạo, thì Việt Nam là nơi sở hữu một hình mẫu vừa tự nhiên vừa hiện đại. Ở đó, chúng ta gặp Hồ Thị Hoa (hay bà Hồ Thị Bi như cách gọi thân thương), một lãnh tụ du kích cách mạng. Gia nhập đơn vị Chi đội 12 thuộc bộ đội miền Nam từ năm 30 tuổi (1946), bà đã làm rung chuyển vùng Hóc Môn và tự tạo cho mình một vị thế vững chắc bằng cả bản lĩnh chính trị lẫn tinh thần chiến đấu...

TP. Hồ Chí Minh31/07/2026Phường Xuân Hương - Đà Lạt ((LĐ) Đoàn phường Xuân Hương - Đà Lạt)5 lượt xem0 lượt chia sẻ
Nữ Kiệt Miền Đông Hồ Thị Bi – Tấm Gương Bất Khuất Của Phụ Nữ Việt Nam

Bà tên thật là Hồ Thị Hoa, sinh năm 1916 tại vùng đất Gia Định (nay là TP. Hồ Chí

Minh). Cảnh nhà gieo neo, mới 6 tuổi bà đã mồ côi cha. Để có tiền chăm sóc người

mẹ ốm đau và nuôi các em nhỏ, bà phải trải qua một tuổi thơ vô cùng vất vả, làm

đủ mọi việc gian khổ từ gánh chè, bán nước cho đến đi làm thuê.

Sau khi lập gia đình, dưới sự ảnh hưởng của người chồng, bà sớm giác ngộ phong

trào yêu nước và dấn thân vào con đường cách mạng qua Hội Ái hữu tương tế Mặt

trận Dân chủ Đông Dương. Tháng 6/1936, bà vinh dự được kết nạp vào Đảng

Cộng sản Đông Dương. Từ mốc thời gian này, bà hoạt động tích cực trong công tác

binh vận, hăng hái tổ chức các cuộc đấu tranh bãi thị, đòi giảm thuế chợ và kiên

quyết bảo vệ quyền lợi cho những người phụ nữ lao động nghèo khổ.

II. Mưu trí giữa trùng khơi ngọn lửa chiến tranh

Đến năm 1941, bà gia nhập Hội Phụ nữ Cứu quốc Hóc Môn. Trong không khí sục

sôi chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, bà được Quận ủy tin

tưởng giao giữ chức Trưởng ban tiếp tế, chỉ huy Đại đội nữ binh thị trấn Hóc Môn

và sau đó là Phó Hội trưởng Hội Phụ nữ cứu quốc. Ngày 25/8/1945, bà trực tiếp

hòa vào dòng người khởi nghĩa rầm rộ tiến về Sài Gòn giành lại chính quyền.

Khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược, bà trở lại căn cứ Hóc Môn. Dưới sự lãnh

đạo của Đảng bộ địa phương và lực lượng vũ trang Sài Gòn, bà gánh vác trọng

trách xây dựng lực lượng, trực tiếp chỉ huy nhiều trận đánh vang dội, liên tiếp đập

tan các bốt đồn của kẻ thù.

Giai đoạn 1946 – 1950, sau khi chính thức nhập ngũ, bà đảm nhiệm nhiều vị trí

quan trọng: Trưởng ban Công tác số 12 (Biệt động thành), Đại đội trưởng Đại đội

2804 kiêm Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 935 (Trung đoàn 312 Gia Định). Bằng bản

lĩnh gan xạ, tài thao lược và những lối đánh mưu trí, xuất quỷ nhập thần, bà cùng

các chiến sĩ biệt động thành đã gieo rắc nỗi khiếp đảm cho quân Pháp và lực lượng

tay sai tại vùng Hóc Môn.

Đến năm 1951, bà tiếp tục được tin cậy giao nhiệm vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn

999, chỉ huy lực lượng tiến vào xây dựng căn cứ Dương Minh Châu (Tây Ninh)

trên tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia. Vượt qua mọi trở ngại khắc nghiệt

cùng rào cản giới tính của một nữ chỉ huy, bà đã cùng đồng đội hoàn thành xuất sắc

nhiệm vụ bảo vệ tuyến địa bàn chiến lược này.

Năm 1953, bà được điều động ra miền Bắc. Tại đây, bà vinh dự được Bác Hồ khen

ngợi và trao tặng danh hiệu "Nữ kiệt miền Đông".

Đến năm 1956, bà được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên

hiệp Phụ nữ Việt Nam. Những cống hiến bền bỉ của bà ghi dấu ấn qua các cấp bậc

quân hàm: Đại úy (1959), Thiếu tá (1965) – trở thành nữ quân nhân sở hữu quân

hàm cao nhất trong Quân đội Nhân dân Việt Nam thời điểm bấy giờ.

Năm 1973, dù sức khỏe không còn như trước, bà vẫn sẵn sàng nhận nhiệm vụ trở

lại chiến trường Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Trong giai đoạn 1974 - 1975 và suốt

thời kỳ Chiến tranh biên giới Tây Nam (1978 - 1979), với cương vị Phó Chủ nhiệm

Chính trị Bộ Tư lệnh TP.HCM, bà không ngại gian khổ lặn lội khắp nơi để vừa vận

động hậu phương, vừa tiếp sức cho tuyến đầu. Năm 1978, bà được phong quân

hàm Thượng tá. Dù đã qua tuổi 60, bà vẫn tiếp tục tận tụy làm công tác chính sách,

chăm lo chu đáo cho các cán bộ, chiến sĩ, cựu chiến binh và gia đình của họ.

Sau khi về nghỉ hưu, bà vẫn dốc sức cho các hoạt động xã hội. Bà là một trong

những sáng lập viên đặt nền móng xây dựng Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ và là Ủy

viên Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

Tài năng và tinh thần kiên quật của bà còn khiến các nhà báo quốc tế phải ngả nón

nể phục. Nhà báo Hilaire du Berrie từng dành những dòng viết đầy tôn kính:

"Lịch sử ghi nhận rất nhiều người phụ nữ bất khuất, có người là huyền thoại, có

người là nhân vật bằng xương bằng thịt. Nếu muốn tìm kiếm hình mẫu một hổ

tướng hội tụ trọn vẹn sự kiên cường và táo bạo, thì Việt Nam là nơi sở hữu một

hình mẫu vừa tự nhiên vừa hiện đại. Ở đó, chúng ta gặp Hồ Thị Hoa (hay bà Hồ

Thị Bi như cách gọi thân thương), một lãnh tụ du kích cách mạng. Gia nhập đơn vị

Chi đội 12 thuộc bộ đội miền Nam từ năm 30 tuổi (1946), bà đã làm rung chuyển

vùng Hóc Môn và tự tạo cho mình một vị thế vững chắc bằng cả bản lĩnh chính trị

lẫn tinh thần chiến đấu..."

Ngày 12/10/2011, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Hồ Thị Bi qua đời tại

TP. Hồ Chí Minh, hưởng thọ 95 tuổi. Cuộc đời bà là tấm gương sáng ngời về tinh

thần anh hùng, bất khuất, hết lòng vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và dựng xây đất

nước.

Càng tìm hiểu về bà Hồ Thị Bi, em càng cảm nhận rõ sự kiên cường và lòng dũng

cảm phi thường của bà. Dù bà sinh ra trong thời bình, nhưng những câu chuyện về

“Nữ kiệt miền Đông” chiến đấu kiên gan nơi chiến trường luôn làm em cảm thấy

thật tự hào và biết ơn sâu sắc. Bà không chỉ là một biểu tượng anh hùng mà còn là

tấm gương sáng để em học hỏi và cố gắng mỗi ngày trong cuộc sống.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn