NỮ THANH NIÊN XUNG PHONG NGUYỄN THỊ TUYẾT - THANH XUÂN LƯU GIỮ NHỮNG NĂM THÁNG KHÁNG CHIẾN CỨU QUỐC
Có những câu chuyện lịch sử được ghi lại trong sách vở, có những chiến công được khắc tên trên những tấm bia tưởng niệm. Nhưng với tôi, lịch sử không phải điều gì quá xa xôi. Lịch sử hiện hữu ngay trong mái tóc bạc, đôi bàn tay gầy và những nếp nhăn in hằn dấu vết thời gian của bà ngoại tôi – bà Nguyễn Thị Tuyết, người phụ nữ mà tôi luôn yêu thương, kính trọng và tự hào.

Bà tôi sinh năm 1927, tại một vùng quê nghèo khó của Hà Tĩnh, mảnh đất miền Trung đầy nắng gió nhưng giàu truyền thống yêu nước. Tuổi thơ của bà gắn liền với những tháng ngày cơ cực, khi cái ăn, cái mặc còn là nỗi lo thường trực. Chính những khó khăn ấy đã tôi luyện nên một người phụ nữ mạnh mẽ, giàu nghị lực và sớm mang trong mình tinh thần yêu nước.
Năm 1945, khi vừa tròn 18 tuổi, bà đã sớm giác ngộ cách mạng. Đó cũng là thời điểm cả dân tộc đang sục sôi khí thế Cách mạng Tháng Tám. Trên quê hương Hà Tĩnh, nhân dân đứng lên giành chính quyền, hòa chung niềm vui độc lập của đất nước. Khi nhiều người ở tuổi mười tám còn ấp ủ những ước mơ riêng, bà đã lựa chọn gắn tuổi thanh xuân của mình với vận mệnh dân tộc.
Cuối năm 1946, cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ. Đến năm 1950, lực lượng Thanh niên xung phong Việt Nam chính thức ra đời. Trong những năm tháng kháng chiến ấy, bà tham gia lực lượng thanh niên xung phong, đảm nhận những công việc thầm lặng nhưng vô cùng quan trọng: tải đạn, mở đường, nấu cơm phục vụ bộ đội. Tôi thường hình dung về bà của những năm tháng ấy, một cô gái nhỏ bé giữa núi rừng, đôi vai gánh những chuyến hàng phục vụ tiền tuyến, đôi bàn tay chai sạn vì đào đất, đắp đường, rồi lại tất bật bên bếp lửa chuẩn bị từng bữa cơm cho bộ đội. Những công việc tưởng chừng bình dị ấy đã góp phần làm nên sức mạnh của cả dân tộc.
Năm 1954, chiến thắng Điện Biên Phủ kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nhưng đất nước vẫn chưa được thống nhất. Bà cùng thế hệ mình tiếp tục trải qua những năm tháng đầy thử thách của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Khi chiến tranh phá hoại miền Bắc ngày càng ác liệt, Hà Tĩnh trở thành một trong những địa bàn chịu nhiều bom đạn. Năm 1968, Ngã ba Đồng Lộc đã trở thành biểu tượng bất khuất của những người thanh niên xung phong giữ vững mạch máu giao thông chi viện cho tiền tuyến.
Điều khiến tôi khâm phục nhất ở bà không chỉ là những gì bà đã làm, mà còn là tinh thần của bà trước hiểm nguy. Giữa mưa bom bão đạn, dù là một người phụ nữ, bà vẫn không hề nao núng, không lùi bước trước gian khó. Bà mang trong mình khí phách của người phụ nữ Việt Nam: anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang. Có lẽ khi ấy, bà chẳng nghĩ mình đang làm điều gì lớn lao. Bà chỉ biết rằng đất nước cần thì mình góp sức, bộ đội cần thì mình sẵn sàng. Với bà, tình yêu Tổ quốc không nằm ở những lời nói cao xa, mà được thể hiện bằng chính những việc làm giản dị mỗi ngày.
Rồi ngày 30 tháng 4 năm 1975 cũng đến. Đất nước thống nhất, non sông thu về một mối. Khi ấy, bà đã 48 tuổi. Từ cô gái mười tám tuổi trong những ngày Cách mạng Tháng Tám đến người phụ nữ bước qua biết bao biến động lịch sử, bà đã dành những năm tháng đẹp nhất của đời mình để cùng dân tộc đi đến ngày hòa bình.
Thế nhưng, cuộc đời đâu chỉ có những cuộc chiến ngoài chiến trường. Có những nỗi đau mà ngay cả một người phụ nữ từng kiên cường trước bom đạn như bà cũng không thể ngăn được nước mắt.
Bà tôi đã không run sợ trước mưa bom bão đạn, nhưng bà đã khóc khi mất đi ông ngoại – người đàn ông đã đồng hành cùng bà qua biết bao thăng trầm của cuộc đời và những cột mốc lịch sử. Ông không chỉ là người bạn đời mà còn là người cùng bà sẻ chia những tháng ngày gian khó, cùng chứng kiến đất nước đổi thay và cùng nhau tận hưởng niềm vui hòa bình. Vậy mà rồi, đến một ngày, người đồng hành ấy không còn nữa.
Tôi từng nghĩ, một người đã đi qua chiến tranh như bà thì sẽ chẳng còn điều gì có thể khiến bà yếu lòng. Nhưng rồi tôi hiểu rằng, mạnh mẽ không có nghĩa là không biết đau buồn. Bà có thể kiên cường trước hiểm nguy, nhưng vẫn có thể rơi nước mắt khi mất đi người mình yêu thương. Tôi tin thời gian sẽ làm những nỗi đau ấy dần dịu lại, không phải để bà quên ông, mà để mỗi khi nhớ về ông, bên cạnh những giọt nước mắt, bà còn có thể mỉm cười vì họ đã từng có nhau trong những năm tháng đẹp đẽ nhất của cuộc đời.
Giờ đây, bà sống cùng chú tôi tại xã Nha Bích, tỉnh Đồng Nai. Ở tuổi gần một thế kỷ, mái tóc bà đã bạc trắng, bước chân cũng chậm hơn, những nếp nhăn ngày một nhiều thêm. Nhưng đối với tôi, bà vẫn là người phụ nữ đẹp nhất, bởi vẻ đẹp của một cuộc đời đầy nghị lực, yêu thương và cống hiến.
Tôi thương bà nhiều lắm! Thương những năm tháng tuổi trẻ bà đã dành cho đất nước, thương những nhọc nhằn bà từng trải qua và cả những nỗi buồn bà lặng lẽ giữ trong lòng. Nhờ bà, tôi học được rằng lòng yêu nước không nhất thiết phải bắt đầu từ những điều lớn lao, mà có thể được thể hiện bằng những hành động bình dị. Bà dạy tôi biết sống có trách nhiệm, biết kiên trì trước khó khăn và trân trọng cuộc sống hòa bình hôm nay, bởi đó là thành quả của biết bao thế hệ đã hy sinh, cống hiến.
Tôi đã có dịp đưa bà đến những buổi gặp gỡ, sinh hoạt cùng các bậc lão thành cách mạng. Ở đó, bà được trò chuyện, ôn lại những kỷ niệm cùng những con người đã đi qua một thời lịch sử giống mình. Nhưng điều khiến tôi hạnh phúc nhất không phải là được nghe bao nhiêu câu chuyện, mà chính là được nhìn thấy nụ cười của bà. Nụ cười ấy hiện lên trên gương mặt đã hằn sâu những nếp nhăn của gần một thế kỷ cuộc đời. Nhìn ánh mắt bà rạng rỡ khi trò chuyện cùng những người bạn cùng thời, lòng tôi bỗng thấy ấm áp lạ thường. Tôi nhận ra rằng, ở tuổi này, điều bà cần đôi khi chỉ là sự quan tâm, một người lắng nghe và những khoảnh khắc được sống lại ký ức đẹp của đời mình.
Nếu ngày trước bà đã dành cả tuổi thanh xuân để góp phần mang lại hòa bình cho thế hệ chúng tôi, thì hôm nay, tôi chỉ mong có thể góp một phần nhỏ bé mang lại niềm vui và sự bình yên cho bà.
Bà tôi có thể chỉ là một người phụ nữ bình dị giữa hàng triệu người Việt Nam từng đi qua chiến tranh. Tên bà có thể không xuất hiện trên những trang sử lớn, nhưng với tôi, cuộc đời bà chính là một trang sử đẹp, được viết bằng tuổi trẻ, lòng kiên cường, sự hy sinh và tình yêu thương.
Tôi chỉ ước thời gian có thể chậm lại một chút, để tôi được ở bên bà lâu hơn, được nghe bà kể thêm nhiều câu chuyện và được nhìn thấy nụ cười ấy thêm thật nhiều lần nữa.
Bà ơi, bà đã đi qua gần một thế kỷ với biết bao vui buồn, mất mát và những đổi thay của đất nước. Bà đã dành tuổi trẻ cho Tổ quốc, dành cả cuộc đời để yêu thương gia đình. Giờ đây, cháu chẳng mong gì hơn ngoài việc bà luôn mạnh khỏe, an nhiên và hạnh phúc.
Cháu chỉ mong những năm tháng phía trước của bà sẽ luôn bình yên, ngập tràn tiếng cười. Bởi nụ cười của bà hôm nay chính là niềm hạnh phúc lớn lao nhất của cháu.
Cháu thương bà nhiều lắm, bà ngoại của cháu!



