Nữ tử tù thoát chết kỳ lạ trong vụ thảm sát Cam Ly
Bên dòng thác Cam Ly của xứ sở sương mù Đà Lạt (Lâm Đồng) 60 năm trước đã từng là nơi diễn ra vụ thảm sát đẫm máu và đê hèn của thực dân Pháp với những người yêu nước kháng chiến. Nhân chứng sống duy nhất của vụ thảm sát này là bà Nguyễn Thị Lan, hiện đang sống ở đường Hai Bà Trưng, thành phố Đà Lạt...
Cam Ly, 20 án tử hình không tuyên
Ở thành phố Đà Lạt nhiều người biết đến bà. Khi đi tìm nhà của nhân vật lịch sử này, những người dân chúng tôi hỏi đều nói chuyện về bà. 20 người bị xử tử hôm ấy, chỉ duy nhất bà thoát chết một cách kỳ lạ với 9 viên đạn xuyên người, trong đó có một viên “ân huệ”. Từ cõi chết trở về, bà trở thành nhân chứng sống tố cáo tội ác man rợ và đê hèn của kẻ thù, dấy lên phong trào kháng Pháp mạnh mẽ trên cao nguyên.
Giờ đây mái tóc bà đã bạc trắng, những vết đạn thù vẫn chằng chịt trên người. Dòng ký ức về câu chuyện 6 thập kỷ trước tuôn trào…
Bà sinh trong một gia đình cách mạng. Anh trai và em trai bà là liệt sĩ. Khi ấy, bà là cơ sở cách mạng, hoạt động nội thành, tham gia tổ chức thanh niên, phụ nữ. Địch đánh hơi được các hoạt động của bà, nhiều lần bắt, bỏ tù, rồi lại thả. Đến đầu năm 1951, bà bị bắt lại lần thứ 3, bị chúng liệt vào nhóm nguy hiểm. Kẻ thù đã dùng nhiều đòn tra tấn dã man, từ tra điện đến treo ngược bà lên xà nhà để đánh. Không khai thác được gì, địch đưa bà về phòng biệt giam.
Vào thời gian đó có một sự kiện, đó là tên Phó chánh thanh tra mật thám Đông Dương Hazz bị Việt Minh tuyên án và xử tử hình ngay tại khách sạn Hoa Hồng. Bọn Pháp lồng lộn. Chúng cho lùng sục, truy sát những người cộng sản. Không lần ra tung tích, chúng điên cuồng trút giận lên đầu những tù nhân đang bị giam cầm. “Đó là ngày Sáu tháng Tư âm lịch. Tôi nhớ rất rõ vì hai hôm sau, mồng Tám tháng Tư là ngày Phật Đản. Sau này chiếu với dương lịch, thì đó là ngày 11-5-1951” – bà Lan nhớ lại.
Chậm rãi uống ngụm nước, bà Lan kể tiếp: “Chiều hôm ấy, bọn cai ngục mở cửa, phân loại danh sách tù nhân rồi lôi lên xe. Ban đầu chúng tôi chỉ nghĩ chúng chuyển trại như mọi khi nên không có phản ứng gì. Chúng đi lòng vòng quanh phố đến khi trời tối hẳn. Chúng tôi nghe loáng thoáng những câu hăm dọa, đầy tức tối của bọn chúng. Đại khái là: Chúng mày phải chết. Một phải đền hai mươi… Trên xe bắt đầu lao xao. Đến thác Cam Ly thì chúng cho xe đỗ lại. Mọi người bị đẩy xuống bãi đất trên đồi Ba Cây. Chưa kịp định thần thì từng loạt đạn đã xối xả bắn về phía tù nhân. Chúng tôi ôm chặt lấy nhau, nắm chặt tay, hô đả đảo. Nhưng không kịp nữa rồi. Trong chốc lát, xác anh chị em sầm sập đổ xuống. Máu loang cả một góc rừng…”.Thoát chết kỳ lạ
Nửa đêm, bà Lan chợt tỉnh dậy. Xung quanh im lặng đến rùng rợn. Trấn tĩnh hồi lâu, bà nhớ lại chuyện vừa xảy ra. Bà quờ tay và hoảng hốt khi thấy xác đồng đội nằm chồng lên nhau. Bà cất tiếng gọi. Không một lời hồi đáp. Cả đến tiếng rên rỉ cũng không.
Bà lấy hết sức bò ra khỏi đống xác người. Toàn thân ê ẩm. Đôi chân không cử động được. Tay trái cũng tê liệt. Bà đưa tay phải sờ lên mặt. Máu của bà và đồng đội chảy đầm đìa. Bà hiểu ra, mình không chết vì viên đạn “ân huệ” chỉ sượt qua má.
Bà lết qua những trảng cỏ, bò vào rừng. Cứ thế qua 4 ngày, 5 đêm bà lẩn trốn qua các cánh rừng. Đói thì nhai lá cây, khát thì bò xuống suối. Có lúc bà kiệt sức, lịm đi. Nhưng khát vọng sống trỗi dậy, thôi thúc bà. Sau đêm thứ 5, khi lết vào ẩn trong một cái hố, bà phát hiện ra một người quen đang đi lấy củi. “Người tiều phu ấy lấy nước cho tôi uống và bón cơm cho tôi ăn. Sau đó bí mật báo tin cho bố tôi biết. Bố tôi nhờ người đưa lên gặp quan Khâm sai của triều đình kêu cứu (Đà Lạt lúc ấy là Hoàng triều cương thổ). Bà Từ Cung, mẹ vua Bảo Đại nghe tin có người bị xử bắn ở thác Cam Ly và thoát chết đã sốt sắng sai người hầu cận xuống chăm sóc”.
Để trừ hậu họa, bọn Pháp đã tiếp tục tìm cách hãm hại bà. Vào một buổi trưa khi bà đang điều trị tại nhà thì có một người đàn ông lén nhảy qua cửa sổ đến bên giường và đưa tay xiết cổ bà. May có người phát hiện, hô hoán lên. Người đàn ông mà bà Lan khẳng định là người thuộc thế lực thân Pháp được sai đến “giết người diệt khẩu” đã vội vàng bỏ chạy. Một lần nữa nữ tử tù lại thoát chết trong gang tấc.
Lúc này vết thương ngày càng nghiêm trọng. Mấy ngày đêm trong rừng, các vết thương lở loét, mưng mủ và sinh ròi. Biết được sự tình, bà Từ Cung sai người mang thuốc đến nhà thương nơi bà Lan mới chuyển đến và bảo: “Phải chích cho con Lan mấy mũi thuốc này để cứu nó. May ra thì mới sống…”. “Không hiểu sao bà Thái hậu này lại tốt với tôi thế. Nếu không có 6 mũi tiêm của bà ấy thì chắc tôi cũng không qua khỏi” – bà Lan nói.
Sau vụ thảm sát, bà Lan đã tìm cách báo cáo với tổ chức để có phương án đấu tranh với địch. Dưới sự lãnh đạo của Thị ủy Đà Lạt, hàng nghìn người dân đã xuống đường biểu tình lên án hành động dã man và hèn hạ của địch, đòi trừng trị những tên gây tội ác. Trước sự phẫn nộ của quần chúng, địch không dám đàn áp mà phải xoa dịu dư luận bằng cách đưa những tên tham gia vụ thảm sát đi Buôn Ma Thuột. Vụ thảm sát còn gây chấn động dư luận quốc tế. Đảng cộng sản Pháp đã đưa vụ này ra chất vấn ở Quốc hội và đòi chấm dứt ngay tội ác đối với các nước thuộc địa.
Sau 6 tháng điều trị ở nhà thương, sức khỏe bà Lan đã tạm ổn. Không sát hại được bà và để ngăn ngừa các hoạt động cách mạng sau khi ra viện, bọn Pháp bắt bà phải rời khỏi nơi cư trú. Bà bí mật vào Sài Gòn, thay tên đổi họ, vừa bươn trải kiếm sống, vừa tìm cách bắt liên lạc với tổ chức. Sau giải phóng, bà trở lại Đà Lạt và tiếp tục tham gia các công tác ở địa phương.Lặng lẽ giữa đời thường
Về với nơi mình sinh ra và lớn lên sau những năm tháng hoạt động và nhiều thăng trầm của cuộc đời, bà Lan hài lòng với những điều bình dị mình đang có.
Lương thương binh bà được 1,7 triệu đồng mỗi tháng, phụ giúp cho gia đình người con trai độc nhất. Lúc khỏe, bà còn làm vườn, trồng rau, đi chợ. Những gian khó cuộc đời và các vết thương xưa cũ vẫn hành hạ bà mỗi khi trái gió trở trời. Người con trai mới đây thi được cái bằng lái đã đi chạy xe. Cô con dâu Phan Thị Lệ ở nhà dệt vải, dạy học thêm và lo chăm sóc mẹ. Chị Lệ tự hào: “Từ hồi về làm dâu, mẹ chưa nói nặng tôi một câu. Mẹ đã nhiều lần thoát chết nên sự chịu đựng ghê lắm. Tôi thương và coi mẹ như mẹ đẻ mình”.
Trong ngôi nhà cũ, vật dụng không có gì đáng kể. Bà Lan trân trọng chỉ vào tấm bảng vàng ghi công hai cụ thân sinh: “Tài sản nhà tôi đấy. Hai cụ nhà tôi trước cũng làm nhiệm vụ nuôi giấu và tiếp tế cho cán bộ. Hoạt động tích cực lắm. Anh trai tôi là liệt sĩ Nguyễn Du Minh theo cách mạng từ rất sớm. Địch treo giá cái đầu của anh với số tiền rất lớn. Vậy nên có kẻ tham tiền đã phản bội. Còn em trai Nguyễn Văn Trung là Chánh văn phòng Thị ủy Đà Lạt, hy sinh năm 1973. Chúng tôi luôn kể cho con cháu nghe về truyền thống gia đình”.
Chia tay bà Lan, chúng tôi tìm đến khu tưởng niệm các liệt sĩ đã hy sinh trong vụ thảm sát 60 năm trước. Dòng thác Cam Ly đẹp và hiền hòa là thế nhưng vẫn nặng trĩu nỗi đau, thương xót những người con kiên trung đã bỏ mình trên mảnh đất này. Người thứ 20 trong danh sách được khắc trên bia là bà Nguyễn Thị Lan “người còn sống sót trong vụ thảm sát”. 5 người đến nay vẫn chưa biết tên tuổi. Số còn lại hầu hết 18, đôi mươi. Chị Phạm Thị Bộ, quê Đại Lộc, Quảng Nam; chị Trương Thị Việt Hoa, quê Điện Bàn, Quảng Nam mới vừa bước sang tuổi 18. Nhiều tuổi nhất là Lê Kim Đa, quê Hương Điền, Thừa Thiên-Huế cũng mới 31 tuổi…
Giữa vi vu gió thổi và khói hương, trầm hương trên khu tưởng niệm, tôi như vẫn còn nghe thoảng đâu đây tiếng kêu thét căm hờn, tiếng hô đả đảo vang động một vùng của bà Nguyễn Thị Lan và đồng đội…



