Nữ tướng Bùi Thị Xuân là một biểu tượng rực rỡ về lòng quả cảm, tài thao lược và khí phách hiên ngang của người phụ nữ Việt Nam trong trang sử hào hùng thời Tây Sơn
Nữ tướng Bùi Thị Xuân quê ở thôn Xuân Hoà, tổng Phú Phong, huyện Tuy Viễn, phủ Quy Nhơn (nay là thôn Phú Xuân, xã Bình Phú, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Theo một số tài liệu thì bà sinh vào năm 1758. Bà là con gái ông Bùi Đắc Chí và là cháu gọi Thái sư Bùi Đắc Tuyên bằng chú.
Lật giở từng trang sử vàng của dân tộc, ta bắt gặp biết bao tấm gương anh hùng áo vải, những con người đã làm rạng danh non sông đất Việt. Thế nhưng, khi nhắc đến thời đại Tây Sơn hào hùng, người ta không chỉ nhớ về hoàng đế Quang Trung - Nguyễn Huệ với những chiến công lừng lẫy, mà còn khắc ghi hình bóng của một nữ tướng kiệt xuất: Đô đốc Bùi Thị Xuân. Cuộc đời và sự nghiệp của bà không chỉ gắn liền với những mốc son chói lọi của triều đại Tây Sơn mà còn là bản hùng ca về khí phách, bản lĩnh và lòng trung nghĩa tuyệt đối của người phụ nữ Việt Nam.
Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Bình Định thượng võ – cụ thể là tại thôn Xuân Hoà, tổng Phú Phong, huyện Tuy Viễn, phủ Quy Nhơn (nay thuộc thôn Phú Xuân, xã Bình Phú, huyện Tây Sơn) – Bùi Thị Xuân mang trong mình dòng máu phóng khoáng, kiên cường của vùng đất võ trời Nam. Theo các tài liệu lịch sử, bà cất tiếng khóc chào đời vào khoảng năm 1758, là con gái của ông Bùi Đắc Chí và là cháu gọi Thái sư Bùi Đắc Tuyên bằng chú. Ngay từ thuở nhỏ, khác với vẻ yểu điệu thường thấy ở các tiểu thư khuê nữ, Bùi Thị Xuân đã sớm bộc lộ niềm đam mê mãnh liệt với võ nghệ. Bà thích tập côn quyền, đao kiếm và phần lớn là tự học ngay tại nhà. Nhờ sự thông minh, sáng dạ cùng tố chất nhanh nhẹn, khỏe mạnh, bà tiếp thu các bài võ rất nhanh. Dân gian truyền tụng rằng từng có một bà cụ già bí mật đến dạy võ cho bà vào ban đêm, lại có thuyết cho rằng bà từng học chung với võ sư Ngô Mãnh và Ngô Văn Sở. Dù theo truyền thuyết nào đi nữa, thì sự thật không thể chối cãi là khi vừa tròn 15 tuổi, Bùi Thị Xuân đã nổi tiếng gần xa không chỉ bởi vẻ đẹp thanh tú, sắc sảo mà còn bởi võ nghệ cao cường, văn võ song toàn. Đó cũng là thời điểm lịch sử trọng đại khi phong trào khởi nghĩa của anh em Tây Sơn bắt đầu chiêu mộ hào kiệt khắp nơi.
Định mệnh dường như đã sắp đặt để cuộc đời Bùi Thị Xuân gắn liền với vận mệnh của triều đại Tây Sơn, bắt đầu từ một giai thoại kỳ thú về mối lương duyên giữa bà và danh tướng Trần Quang Diệu. Truyện kể rằng, một hôm vào rừng săn bắn, bà vô tình chứng kiến một tráng sĩ tay không quần nhau với hổ dữ suốt cả buổi sáng, đến lúc ấy đã đuối sức và lâm vào cảnh ngàn cân treo sợi tóc. Không chút do dự, với tinh thần trượng nghĩa, Bùi Thị Xuân vội vàng rút kiếm lao vào cứu giúp. Chỉ bằng một đường kiếm vút nhanh như tia sáng, bà đã chém một nhát xả vai khiến con hổ hoảng sợ phải bỏ chạy thục mạng vào rừng sâu. Người tráng sĩ được cứu thoát ấy chính là Trần Quang Diệu – người đang trên đường tìm đến Kiên Mỹ để ra mắt anh em Tây Sơn. Cùng lúc đó, bản thân Bùi Thị Xuân cũng đang ấp ủ ý chí tìm về với nghĩa quân. Chí lớn gặp nhau, hai con người kỳ tài ấy đã cùng nhau đến bái yết Tây Sơn Vương Nguyễn Nhạc. Nhận ra tài năng và tấm lòng của họ, chính Nguyễn Nhạc đã đứng ra tác thành cho hai người nên nghĩa vợ chồng. Từ đây, họ trở thành những trụ cột vững chắc của triều đại Tây Sơn. Nếu Bùi Thị Xuân đứng đầu "Ngũ phụng thư" (năm vị nữ anh kiệt kiệt xuất), thì Trần Quang Diệu là một trong "Thất hổ tướng" lừng danh. Cả hai được vinh danh là hai trong số mười tám vị khai quốc công thần đặt nền móng vững chắc cho nhà Tây Sơn, sử sách gọi là "Tây Sơn thập bát cơ thạch".
Dưới triều đại Tây Sơn, Bùi Thị Xuân là một trong số rất ít nữ tướng giữ vai trò đầu tàu trong bộ chỉ huy nghĩa quân. Với tài năng vượt trội, bà được giao trọng trách chỉ huy đội nữ binh bảo vệ Hoàng thành, đồng thời đảm nhận nhiệm vụ thuần dưỡng và huấn luyện voi chiến để chỉ huy đội tượng binh hùng mạnh. Dưới quyền chỉ huy trực tiếp của bà có tới 5.000 nữ binh tinh nhuệ cùng 200 thớt voi chiến, đóng vai trò then chốt trong việc bảo vệ sự an nguy của Kinh đô, giúp cho các tướng sĩ yên tâm chinh chiến sa trường.
Dù gánh vác trọng trách hậu phương và bảo vệ Hoàng thành, Bùi Thị Xuân vẫn trực tiếp góp mặt trong nhiều chiến dịch lớn. Bà từng tham gia trận Rạch Gầm - Xoài Mút lừng lẫy vào đầu năm 1785 dưới quyền chỉ huy trực tiếp của chủ tướng Nguyễn Huệ – chiến công hiển hách đập tan hàng vạn quân Xiêm xâm lược. Đến năm 1791, bà tiếp tục tham gia chiến dịch đánh sang Vạn Tượng dưới sự chỉ huy của chồng mình là tướng Trần Quang Diệu. Với những cống hiến to lớn ấy, bà được Hoàng đế Quang Trung phong tịch Đô đốc – vị nữ Đô đốc duy nhất dưới triều đại Tây Sơn và là một trong những nữ tướng hiếm hoi, vĩ đại nhất trong suốt chiều dài lịch sử phong kiến Việt Nam.
Thế nhưng, thời thế đổi thay, bánh xe lịch sử chuyển động mang theo những tang thương và biến động khôn lường. Tháng 5 năm Tân Dậu (1801), khi đại bộ phận tinh binh và các tướng giỏi của Tây Sơn đang dồn toàn lực vây hãm nhằm chiếm lại Quy Nhơn, Nguyễn Phúc Ánh đã chớp thời điểm bất ngờ đánh thẳng vào Phú Xuân (Huế). Lúc bấy giờ, lực lượng bảo vệ Kinh đô quá mỏng manh khiến quân Tây Sơn nhanh chóng thất thủ, Phú Xuân rơi vào tay nhà Nguyễn. Trong giờ phút nguy cấp ấy, Bùi Thị Xuân đã đứng ra bảo vệ vua Cảnh Thịnh cùng toàn bộ Hoàng gia rút lui an toàn ra Bắc thành. Sự thất thủ của Phú Xuân đã làm thay đổi hoàn toàn cục diện chiến tranh giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh, khiến lực lượng bị chia cắt làm hai miền Nam - Bắc, không thể tương ứng cứu viện cho nhau, mở ra những trang buồn cho đoạn cuối của triều đại hào hùng này.
Nhìn lại cuộc đời của nữ tướng Bùi Thị Xuân, ta không chỉ thấy bóng dáng của một bậc kỳ tài võ nghệ, một người vợ chung thủy, một vị Đô đốc tài ba mà còn thấy cả khí phách kiên trung bất khuất của người phụ nữ Việt Nam. Cuộc đời bà là minh chứng hùng hồn cho thấy phụ nữ Việt Nam không chỉ đảm đang trong gia đình mà còn sẵn sàng gánh vác giang sơn xã tắc trong những thời khắc lịch sử ngặt nghèo nhất. Tên tuổi của Bùi Thị Xuân cùng hào khí Tây Sơn sẽ mãi mãi khắc sâu vào tâm khố của dân tộc như một khúc ca tráng lệ về lòng yêu nước và tinh thần bất diệt của non sông.


