Nữ tướng Lê Chân “Vâng mệnh vương, dẹp xâm lăng, lừng danh nữ tướng”
Trong lịch sử đấu tranh bất khuất chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta, phụ nữ Việt Nam luôn song hành cùng nam giới, làm nên những chiến công bất hủ. Vào những năm 40 sau Công nguyên, cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng bùng nổ, phụ nữ đóng vai trò then chốt về chỉ huy và chiến đấu. Bà Lê Chân là vị nữ tướng xuất sắc, công lao và chiến tích của bà lưu dấu ấn sâu đậm ở nhiều địa phương.
Theo bản thần tích hiện còn lưu giữ ở Đền Nghè (thuộc quận Lê Chân, Thành phố Hải Phòng), Lê Chân là con ông Lê Đạo và bà Trần Thị Châu, ở làng An Biên (tên nôm là làng Vẻn) huyện Đông Triều, phủ Kinh Môn, xứ Hải Dương (nay thuộc xã Thủy An, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh). Ông Lê Đạo làm nghề thầy thuốc, tính nhân từ, hay giúp đỡ người nghèo khó, bà Trần Thị Châu cũng là người thuần hậu. Hiềm nỗi ông bà tuổi đã cao mà chưa có con. Nghe tiếng ngôi chùa ở núi Yên Tử trong huyện rất linh ứng, ông bà tìm đến cầu tự. Quả nhiên bà Châu có mang, ngày mồng 8 tháng 2 năm Canh Thìn (20) bà sinh con gái khôi ngô, bụ bẫm. Ông, bà đặt tên con là Chân. Năm Lê Chân 18 tuổi, sắc đẹp và đức hạnh của nàng nổi tiếng khắp vùng.
Tượng thờ bà Lê Chân tại đền Nghè (Hải Phòng) nguồn:Internet.Vào thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất bắt đầu từ năm 111 trước Tây lịch - năm vua Vũ đế nhà Hán sai quân sang đánh nhà Triệu, lấy nước Nam Việt rồi đổi thành Giao Chỉ bộ và chia làm 9 quận. Năm 34, vua Quang Vũ sai Tô Định sang làm thái thú quận Giao Chỉ. Tô Định là kẻ tàn bạo, tham lam “thấy tiền là giương mắt lên” đi kinh lý qua Đông Triều. Nghe kẻ nịnh thần tâu bày về sắc đẹp của nàng Lê Chân, Tô Định bèn dùng quyền thế ép nàng làm tì thiếp. Trước thái độ ngang nhiên, hống hách của Tô Định, Lê Chân đã bỏ chốn, tức tối Tô Định hèn hạ tìm cách hãm hại ông bà Lê Đạo. Căm giận quân cướp nước, Lê Chân mang nặng tâm tư thù nhà, nợ nước, tìm thày học binh thư, võ nghệ, kết giao với những người cùng chung chí hướng và khi võ nghệ đã tinh thông, bà giong thuyền đến vùng đất An Dương cạnh cửa Sông Cấm (Hải Phòng ngày nay). Thấy nơi này đất đai màu mỡ, sông ngòi chằng chịt, địa thế hiểm trở, thuận tiện cho việc lập căn cứ chống giặc bà đã quyết định ở lại. Bà là người trước nhất nhìn thấy nơi này có vị trí quan trọng trong việc xây dựng căn cứ quân sự cũng như tăng gia sản xuất, có thể đảm bảo cho được công tác hậu cần nếu tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Vì thế, bà cho người tìm về quê cũ đón gia quyến và người thân tới đây để xây dựng trang ấp mới. Nhớ quê cũ bà đặt tên cho quê mới là An Biên. Nghe tin, nhiều nam thanh nữ tú vùng Đông Triều, Kinh Môn, Thủy Nguyên… đã tìm đến hội tụ dưới cờ nghĩa của bà.Dăm năm sau, vùng đất hoang vu này trở thành nơi sầm uất, khách thập phương nườm nượp tìm đến giao thương, buôn bán. Không những thế bà Lê Chân còn ngầm liên kết với các hào kiệt xa gần để tạo nên một thế lực vững mạnh, những dân quân dưới quyền của bà họ được huấn luyện thông thạo về thủy chiến, để tùy lúc có thể phối hợp với bộ binh đánh tan những âm mưu của giặc. Sự lớn mạnh của vùng đất này, không thể lọt ra khỏi tầm mắt của Tô Định và Tô Định đã sai quân đến bao vây, nhưng do cảnh giác nên nghĩa quân đã phát hiện và chủ động đánh trả. Quân giặc Hán khiếp sợ tài cầm quân của nữ tướng Lê Chân nên gọi là “Cá Kình biển Đông”.Mùa xuân năm 40, khi nghe tin Hai Bà Trưng “phất cờ nương tử”, dấy binh đánh quân xâm lược, bà Lê Chân đã đưa toàn bộ nghĩa quân gia nhập vào đại quân của Hai Bà Trưng. Trong cuộc khởi nghĩa này, ngoài bà Lê Chân còn có sự giúp sức của các anh hùng hào kiệt bốn phương, các nữ tướng như Thánh Thiên, Thiều Hoa, Bát Nạn, Nàng Nội, Ả Là, Lê Ngọc Trinh… Đại quân của Hai Bà Trưng quy tụ ở Mê Linh, khởi sự đánh chiếm đô úy trị của Thái thú Tô Định đóng tại đây. Sau đó từ Mê Linh kéo quân đánh huyện Tây Vu, tức thành Cổ Loa. Rồi từ Cổ Loa vượt qua sông Đuống xuôi dòng sông Dâu đánh phá quận trị quận Giao Chỉ, bấy giờ đóng ở thành Luy Lâu.Trong cuộc khởi nghĩa này, bà Lê Chân cùng bà Thánh Thiên được cử làm tướng tiên phong. Các quan lại, Thứ sử, Thái Thú, quân sĩ nhà Hán hoảng sợ, không dám chống cự, bỏ chạy thoát thân Thái Thú Tô Định trốn chạy về quận Nam Hải. Các lạc tướng ở các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố nghe tin quân Hán thất bại, cũng đều nổi dậy cùng đại quân của Hai Bà Trưng đánh chiếm các quận, huyện, đập tan chính quyền đô hộ của nhà Hán ở các nơi.Với khí thế tiến công như vũ bão, chỉ trong 2 tháng nghĩa quân đã chiếm lại được 65 thành trì, đập tan ách thống trị của nhà Hán, bà Trưng Trắc được tướng sĩ, nghĩa quân tôn làm vua (lấy hiệu là Trưng Vương). Trưng Vương xét công lao ban thưởng tướng sĩ. Lê Chân khi ấy 24 tuổi, được phong là Thánh Chân công chúa, ban chức Chưởng quản binh quyền coi giữ vùng hải tần (duyên hải Đông Bắc).Bà Lê Chân đã không phụ lòng tin của Hai Bà Trưng, với nhiệm vụ được giao, bà chứng tỏ là người có uy tín và thành thạo địa hình, thông hiểu tập quán của dân chài miền biển. Khi trấn thủ miển Đông Bắc, bà đã dốc công, hết lòng hết nước với dân. Việc tuần tra, kiểm soát các thuyền bè ra vào được thực thi nghiêm ngặt. Ngoài việc canh giữ biên cương, bà còn chăm lo phát triển trang ấp. Bà đã tuyển thêm dân binh, mở lò tập võ, luyện vật, phát triển trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt tôm cá, xây dựng thôn xóm ngày một trù phú, đông vui. Những việc làm của Lê Chân trên vùng đất mới đã cố kết dân tình, giữ vững nền tự chủ vừa giành được.
Tượng thờ bà Lê Chân tại đền Nghè (Hải Phòng) nguồn:Internet.Vào thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất bắt đầu từ năm 111 trước Tây lịch - năm vua Vũ đế nhà Hán sai quân sang đánh nhà Triệu, lấy nước Nam Việt rồi đổi thành Giao Chỉ bộ và chia làm 9 quận. Năm 34, vua Quang Vũ sai Tô Định sang làm thái thú quận Giao Chỉ. Tô Định là kẻ tàn bạo, tham lam “thấy tiền là giương mắt lên” đi kinh lý qua Đông Triều. Nghe kẻ nịnh thần tâu bày về sắc đẹp của nàng Lê Chân, Tô Định bèn dùng quyền thế ép nàng làm tì thiếp. Trước thái độ ngang nhiên, hống hách của Tô Định, Lê Chân đã bỏ chốn, tức tối Tô Định hèn hạ tìm cách hãm hại ông bà Lê Đạo. Căm giận quân cướp nước, Lê Chân mang nặng tâm tư thù nhà, nợ nước, tìm thày học binh thư, võ nghệ, kết giao với những người cùng chung chí hướng và khi võ nghệ đã tinh thông, bà giong thuyền đến vùng đất An Dương cạnh cửa Sông Cấm (Hải Phòng ngày nay). Thấy nơi này đất đai màu mỡ, sông ngòi chằng chịt, địa thế hiểm trở, thuận tiện cho việc lập căn cứ chống giặc bà đã quyết định ở lại. Bà là người trước nhất nhìn thấy nơi này có vị trí quan trọng trong việc xây dựng căn cứ quân sự cũng như tăng gia sản xuất, có thể đảm bảo cho được công tác hậu cần nếu tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Vì thế, bà cho người tìm về quê cũ đón gia quyến và người thân tới đây để xây dựng trang ấp mới. Nhớ quê cũ bà đặt tên cho quê mới là An Biên. Nghe tin, nhiều nam thanh nữ tú vùng Đông Triều, Kinh Môn, Thủy Nguyên… đã tìm đến hội tụ dưới cờ nghĩa của bà.Dăm năm sau, vùng đất hoang vu này trở thành nơi sầm uất, khách thập phương nườm nượp tìm đến giao thương, buôn bán. Không những thế bà Lê Chân còn ngầm liên kết với các hào kiệt xa gần để tạo nên một thế lực vững mạnh, những dân quân dưới quyền của bà họ được huấn luyện thông thạo về thủy chiến, để tùy lúc có thể phối hợp với bộ binh đánh tan những âm mưu của giặc. Sự lớn mạnh của vùng đất này, không thể lọt ra khỏi tầm mắt của Tô Định và Tô Định đã sai quân đến bao vây, nhưng do cảnh giác nên nghĩa quân đã phát hiện và chủ động đánh trả. Quân giặc Hán khiếp sợ tài cầm quân của nữ tướng Lê Chân nên gọi là “Cá Kình biển Đông”.Mùa xuân năm 40, khi nghe tin Hai Bà Trưng “phất cờ nương tử”, dấy binh đánh quân xâm lược, bà Lê Chân đã đưa toàn bộ nghĩa quân gia nhập vào đại quân của Hai Bà Trưng. Trong cuộc khởi nghĩa này, ngoài bà Lê Chân còn có sự giúp sức của các anh hùng hào kiệt bốn phương, các nữ tướng như Thánh Thiên, Thiều Hoa, Bát Nạn, Nàng Nội, Ả Là, Lê Ngọc Trinh… Đại quân của Hai Bà Trưng quy tụ ở Mê Linh, khởi sự đánh chiếm đô úy trị của Thái thú Tô Định đóng tại đây. Sau đó từ Mê Linh kéo quân đánh huyện Tây Vu, tức thành Cổ Loa. Rồi từ Cổ Loa vượt qua sông Đuống xuôi dòng sông Dâu đánh phá quận trị quận Giao Chỉ, bấy giờ đóng ở thành Luy Lâu.Trong cuộc khởi nghĩa này, bà Lê Chân cùng bà Thánh Thiên được cử làm tướng tiên phong. Các quan lại, Thứ sử, Thái Thú, quân sĩ nhà Hán hoảng sợ, không dám chống cự, bỏ chạy thoát thân Thái Thú Tô Định trốn chạy về quận Nam Hải. Các lạc tướng ở các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố nghe tin quân Hán thất bại, cũng đều nổi dậy cùng đại quân của Hai Bà Trưng đánh chiếm các quận, huyện, đập tan chính quyền đô hộ của nhà Hán ở các nơi.Với khí thế tiến công như vũ bão, chỉ trong 2 tháng nghĩa quân đã chiếm lại được 65 thành trì, đập tan ách thống trị của nhà Hán, bà Trưng Trắc được tướng sĩ, nghĩa quân tôn làm vua (lấy hiệu là Trưng Vương). Trưng Vương xét công lao ban thưởng tướng sĩ. Lê Chân khi ấy 24 tuổi, được phong là Thánh Chân công chúa, ban chức Chưởng quản binh quyền coi giữ vùng hải tần (duyên hải Đông Bắc).Bà Lê Chân đã không phụ lòng tin của Hai Bà Trưng, với nhiệm vụ được giao, bà chứng tỏ là người có uy tín và thành thạo địa hình, thông hiểu tập quán của dân chài miền biển. Khi trấn thủ miển Đông Bắc, bà đã dốc công, hết lòng hết nước với dân. Việc tuần tra, kiểm soát các thuyền bè ra vào được thực thi nghiêm ngặt. Ngoài việc canh giữ biên cương, bà còn chăm lo phát triển trang ấp. Bà đã tuyển thêm dân binh, mở lò tập võ, luyện vật, phát triển trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt tôm cá, xây dựng thôn xóm ngày một trù phú, đông vui. Những việc làm của Lê Chân trên vùng đất mới đã cố kết dân tình, giữ vững nền tự chủ vừa giành được.


