Nửa thế kỷ gìn giữ những trang thư
Theo giới thiệu từ một người đồng đội của liệt sĩ Nguyễn Danh Ngọc, tôi tìm đến ngõ 12 Đào Tấn (Hà Nội) để tìm gặp người phụ nữ hơn 50 năm qua đã trân trọng lưu giữ những lá thư thời chiến của người chồng liệt sĩ. Bà là Nguyễn Thị Khánh Vân, vợ của Đại úy, liệt sĩ Nguyễn Danh Ngọc -nguyên Tham mưu trưởng Trung đoàn 9, Sư đoàn 304...
Theo giới thiệu từ một người đồng đội của liệt sĩ Nguyễn Danh Ngọc, tôi tìm đến ngõ 12 Đào Tấn (Hà Nội) để tìm gặp người phụ nữ hơn 50 năm qua đã trân trọng lưu giữ những lá thư thời chiến của người chồng liệt sĩ. Bà là Nguyễn Thị Khánh Vân, vợ của Đại úy, liệt sĩ Nguyễn Danh Ngọc -nguyên Tham mưu trưởng Trung đoàn 9, Sư đoàn 304.
Ở tuổi 83, dù không muốn gợi lại ký ức buồn đau, nhưng trong buổi trò chuyện, bà vẫn ngậm ngùi kể lại quãng thời gian ngắn ngủi hai vợ chồng bên nhau, về những năm tháng “vui duyên mới không quên nhiệm vụ” và cả những dự cảm chia xa khi bà thấy thưa vắng dần những cánh thư chồng gửi từ mặt trận…
Đọc lại những trang thư thời chiến, bà Vân như được sống lại tuổi đôi mươi, khi cô gái trẻ sinh ra ở phố Thụy Khuê (Hà Nội) tới công tác tại Nhà máy dệt Nam Định. Trong thời gian ấy, cô đã quen và nhận lời yêu chàng lính trẻ Nguyễn Danh Ngọc ở quê lụa Hà Tây.
Trong số những lá thư kỷ vật, có một lá thư được chồng bà viết từ cách đây hơn nửa thế kỷ, đó là lá thư đánh dấu một mốc thời gian đáng nhớ giữa hai người.
“Hôm nay, lần đầu tiên anh viết thư cho Vân để nói lên tình yêu thắm thiết và chân thành của anh. Tình yêu của chúng ta tuy mới bắt đầu nhưng anh cảm thấy nó thực mát mẻ và trong sáng như một buổi sớm bình minh, chắc Vân cũng nghĩ thế? Anh xin quả quyết rằng, sông có khúc cạn, đá vẫn thường mòn, nhưng khi anh đã đặt tình yêu ở Vân rồi thì lòng anh không bao giờ có thể biến đổi như sông như đá được. Cuộc sống con người muốn tươi đẹp thì phải có tình yêu, ví như bầu trời phải có cỏ cây hoa lá và mặt trời, không có những thứ đó thì bầu trời chỉ là màn đêm hoặc sa mạc phải không Vân?...” (Thư ngày 21-5-1957)
|
Di ảnh liệt sĩ Nguyễn Danh Ngọc. Ảnh do gia đình cung cấp. |
Khi Nguyễn Danh Ngọc về thị xã Sơn Tây học tại trường Lục quân (nay là Trường Đại học Trần Quốc Tuấn), cũng là lúc tình yêu đôi lứa giữa chàng học viên sĩ quan với cô công nhân nhà máy dệt trải qua một thời gian dài thử thách, và những lời hò hẹn của họ cũng có dịp chứng minh trong thực tế.
“Ở trên này, chỗ anh ở có rất nhiều cây phượng vĩ hoa đã nở đầy cành. Nhìn phượng nở, sao mà đẹp thế. Nó gợi nhớ tới những phút giây khi hai chúng ta cùng kề vai bàn chuyện hạnh phúc tương lai, hoặc những phút giây hai trái tim mình như cùng hòa nhịp. Anh yêu em cũng như em yêu anh, chúng ta đã thống nhất với nhau và nhất định sẽ mãi là như thế…” (Thư ngày 20-5-1958)
Ngày 6-9-1958, tại Khách sạn Phú Gia (Hà Nội), đông đủ bạn bè, người thân đã tới chia vui, chúc mừng hạnh phúc cô dâu Khánh Vân và chú rể Danh Ngọc. Sau lễ cưới, họ lại tiếp tục xa nhau và những cánh thư đã giúp hai người gửi gắm vào trong đó bao nỗi nhớ niềm mong.
“Tới nay, nếu kể từ khi chúng ta yêu nhau thì cũng đã được 730 ngày rồi! Ở đây hoa phượng cũng đã nở đỏ rực cả một khoảng không gian, cũng có những cặp cùng sánh bước đi dạo dưới bóng mát của những cây phượng vĩ tươi đẹp… Anh nhớ rất rõ giữa buổi nắng hè, chúng ta cùng ngồi dưới bóng phượng, bóng cây đã che mát và hoa của nó cũng có những màu sắc báo hiệu vui mừng với chúng ta… Bây giờ ở nơi đây phượng vĩ đã nở hoa, trăng trong đã soi bóng, gió vẫn lả lướt bay, thỉnh thoảng tiếng sáo diều lại réo rắt hòa với gió gợi nên trong tâm hồn anh một cảm xúc nhớ thương” (Thư ngày 18-5-1959)
Bà Vân kể: “Năm 1959 là thời gian chúng tôi lưu giữ được khá nhiều thư của nhau. Cứ độ nửa tháng chưa nhận được thư là cả hai lại mong ngóng và tỏ ra sốt ruột. Có lần nhà tôi tâm sự: Anh muốn lúc vợ chồng xa nhau hãy lấy thư từ để khuây khỏa nỗi nhớ, an ủi nhau lúc vui buồn. Dù nhiều ít, ngắn dài, thậm chí một câu chữ trong thư cũng đủ vui rồi”.
Trong những lá thư gửi về, Nguyễn Danh Ngọc cũng không quên nhắc vợ “vui duyên mới không quên nhiệm vụ”-một câu khẩu hiệu khá phổ biến trong thời điểm ấy:
“Việc nghỉ phép của Vân trong thời gian này anh thấy không nên, vì có thể dư luận sẽ cho là chúng ta vì tình nghĩa vợ chồng mà giảm sút tinh thần công tác, như vậy sẽ ảnh hưởng nhiều đến thành tích của Vân”. (Thư ngày 1-3-1959)
|
Hàng chục năm qua, những lá thư của chồng vẫn được bà Vân lưu giữ cẩn thận. Ảnh: Quang Huy. |
“Việc em hỏi anh về vấn đề học tập, anh tán thành và tận tình giúp đỡ nếu em cần, còn bao giờ học và học đến mức nào thì tùy em, có một điều là học càng nhiều càng tốt, tranh thủ học sớm được ngày nào hay ngày ấy vì thời gian nghỉ của em cũng gần một năm rồi, nếu không tranh thủ học đến khi đi làm lại gặp khó khăn và chẳng bao giờ còn thời cơ như vậy nữa”. (Thư ngày 23-3-1966)
Trong một lá thư rất dài, Nguyễn Danh Ngọc đã không giấu nổi niềm vui khi hay tin vợ đang mang thai đứa con đầu lòng, vui sướng đến mức “từ lúc nhận tin vợ thông báo, trông thấy ai anh cũng muốn níu họ lại để khoe cái tin mừng ấy”.
“Giá mà không phải ở cái tuổi 29 này, anh sẽ nhảy múa ca hát suốt ngày mất. Chả thế mà đêm qua thao thức mãi không ngủ được, lúc thiếp đi anh mơ đến cảnh gia đình sum họp đầm ấm. Đó là một buổi chiều thu, em bồng con chơi ở cửa, con luôn miệng gọi bố, khi đó cũng vừa lúc anh về, con chạy ra ôm choàng lấy cổ bố, anh hôn con và cù con cười ngặt nghẽo, em nhìn anh và con trìu mến. Cơm nước xong, anh và em lại dắt con đi dạo mát bên hồ…” (Thư ngày 4-7-1959)
Có một mốc thời gian ý nghĩa đối với cặp vợ chồng Danh Ngọc-Khánh Vân, đó là ngày 6-9, ngày mà hầu như năm nào Nguyễn Danh Ngọc cũng nhắc tới khi viết thư cho vợ:
“Ngày mai (6-9) là đúng kỷ niệm một năm ngày cưới của chúng ta rồi. Ngày này năm trước hai đứa chúng mình vừa vui vừa lo, rồi khi công việc xong xuôi hai đứa cùng đứng ở cửa sổ tâm sự, ngắm tháp Rùa hồ Gươm, lúc ấy anh thấy sao hạnh phúc quá, tưởng chừng như trên đời chỉ có vợ chồng mình!” (Thư ngày 5-9-1959)
“Lẽ ra thư này anh gửi cho em ngày 6-9 mới đúng ý nghĩa, ngày 6-9 em nhớ chứ? Nếu tính ngày thì tới nay chúng ta đã chung sống vừa tròn 730 ngày rồi đấy… Trong quãng thời gian ấy, anh nghiệm thấy cuộc sống của chúng ta đã sung sướng và hạnh phúc lắm rồi-tất nhiên mới chỉ là trong điều kiện sinh hoạt của chúng ta hiện nay thôi” (Thư ngày 10-9-1960)
Cuối tháng 1-1966, từ chiến trường miền Nam, Nguyễn Danh Ngọc đã tranh thủ về thăm gia đình, để rồi ít ngày sau anh lại trải qua chặng hành trình từ ga Hà Nội về Ninh Bình, rồi sau đó đi nhờ xe đạp và cuốc bộ tới đơn vị. Trong thư, Nguyễn Danh Ngọc đã chân thành bộc bạch: “Lúc anh đi, thương, nhớ em và các con quá: Em thì còn yếu và long đong về nơi ăn chốn ở, lại lo nghĩ về gia đình, còn các con mỗi đứa một vẻ: Thúy chịu khó học, cũng dễ bảo, Nga lém lỉnh tinh nhanh, khỏe mạnh và ngoan, Thanh hay vòi nhưng cũng ngoan và khỏe mạnh, nhất là tiếng nói líu ríu vòi ăn nghe thích quá. Em thân yêu! Từ ngày chúng ta cưới nhau tới giờ tính ra cũng được 7 năm rồi, điểm lại ta cũng có ba con với nhau và chưa lúc nào ta cãi nhau to tát hoặc giận nhau tới hai ngày…” (Thư ngày 26-1-1966)
Tháng 11-1966, khi có hai người đồng đội về công tác ở Hà Nội, Nguyễn Danh Ngọc đã tranh thủ biên thư kể chuyện chiến trường:
“Anh sống trong cảnh máy bay đủ loại suốt ngày đêm quần đảo, còn bom đạn thì ngày nào cũng có. Thế nhưng bộ đội và nhân dân vẫn sinh hoạt, tập luyện và sản xuất bình thường, ngay cả những cặp vợ chồng hoặc những đôi trai gái yêu nhau chiều chiều vẫn cùng nhau đi ngắm cảnh, tâm sự. Khi máy bay giặc đến thì những cảnh bình thường ấy lập tức chuyển thành những trận đánh trả địch quyết liệt, khi chúng bay đi thì mọi chuyện lại đâu vào đấy. Ở trong này anh sinh hoạt cũng đàng hoàng lắm, ăn uống đầy đủ, có đài nghe tin tức, còn nơi làm việc cũng chẳng kém thời bình là mấy, chỉ có dầu thắp đèn thì hiếm quá và thời tiết về đêm khá lạnh…” (Thư ngày 9-11-1966)
Ngày 25-6-1967, Nguyễn Danh Ngọc đã căn dặn người vợ đang vất vả nuôi dạy con thơ: “Việc giải quyết cho Nga, Thanh đi mẫu giáo thế cũng được, riêng việc học của Thúy em xem nếu em kèm cho con có thể lên lớp được thì cho lên, nếu yếu quá thì đừng ép con, thấy khó con sẽ chóng chán, tùy em xem tình hình mà giải quyết nhé!” (Thư ngày 25-6-1967)
Đó là một trong những lá thư cuối cùng Nguyễn Danh Ngọc gửi về gia đình. Cuối tháng 11-1967, tại mặt trận Quảng Trị, với cương vị Tham mưu trưởng Trung đoàn 9 (Sư đoàn 304), Đại úy Nguyễn Danh Ngọc đã có mặt trong đoàn cán bộ đi trinh sát thực địa để chuẩn bị tiêu diệt cứ điểm Làng Vây. Khi đoàn sang gần đến bờ sông Sê-pôn thì lọt vào ổ phục kích của thám báo địch. Đại úy Nguyễn Danh Ngọc và một đồng đội thuộc Tiểu đoàn đặc công đã anh dũng hy sinh. Hơn 30 năm sau, nhờ sự giúp đỡ tận tình của đồng đội Sư đoàn 304 cùng bộ đội và nhân dân địa phương, sau 3 ngày tìm kiếm trên đất bạn Lào, gia đình đã tìm thấy hài cốt liệt sĩ Ngọc và đưa về an táng tại Nghĩa trang liệt sĩ Nhổn (Hà Nội).
Hơn 40 năm gánh chịu nỗi đau quạnh vắng, những lá thư của người chồng liệt sĩ đã trở thành nguồn động viên tinh thần giúp bà Vân vượt qua khó khăn để nuôi dạy con cái trưởng thành. Bốn cô con gái cũng đã nhiều lần cùng mẹ ngồi đọc lại những trang thư và gìn giữ giúp mẹ những kỷ vật của cha. Giờ đây, lại tới lượt những đứa cháu ngoại giúp bà làm việc ấy. Mỗi khi lật giở những trang thư của ông, chúng cứ nắc nỏm khen hay, cho dù đó là những trang thư được viết từ cách đây hơn nửa thế kỷ…





