NÚI RỪNG TÂY NGUYÊN THEO BÁC
Trước ngày Tổng khởi nghĩa, tôi tham gia công tác bí mật, tuyên truyền giải thích Điều lệ Mặt trận Việt Minh trong viên chức, trí thức người các dân tộc ở Đắk Lắk.
Một đồng chí cán bộ, sau khi giải thích tôn chỉ mục đích, có nói đến người lãnh đạo: “Người sáng lập ra Mặt trận Việt Minh là Hồ Chí Minh. Đồng chí Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc, một người Việt Nam bôn ba hải ngoại để tìm đường giải phóng dân tộc. Người đã hy sinh cả cuộc đời cho cách mạng Việt Nam. Người đã mang lại thành công bước đầu cho dân tộc”.
Nghe nói, tôi tưởng tượng Bác Hồ như một nhân vật thần kỳ. Đó là một người cao lớn phi thường, thông minh, tài giỏi hơn người Pháp. Tôi thầm nghĩ: “Đất nước mình mà có được người như thế thì nhất định một ngày không xa nữa sẽ được giải phóng khỏi ách nô lệ”. Tôi phấn khởi vô hạn. Từ đó, tôi càng chú ý nghiên cứu cương lĩnh của Mặt trận. Bao điều mới lạ làm tôi ngạc nhiên: các dân tộc đều bình đẳng, được giải phóng khỏi ách áp bức, thoát khỏi nạn phu phen sưu thuế; các dân tộc thiểu số được hưởng mọi quyền lợi kinh tế, chính trị, văn hóa... và được tham gia xây dựng đất nước. Cương lĩnh của Mặt trận như ánh sáng mặt trời chiếu rọi vào cuộc đời tăm tối của các dân tộc Tây Nguyên. Cương lĩnh kỳ diệu này là của Nguyễn Ái Quốc, của Hồ Chí Minh sáng tạo ra, làm tôi càng tin tưởng. Đồng chí cán bộ kêu gọi các dân tộc hãy theo tiếng gọi của Bác Hồ mà đoàn kết Kinh - Thượng, không sợ kẻ thù, không sợ gian khổ hy sinh để giải phóng đất nước. Nghe cán bộ phân tích âm mưu thâm độc của bọn thực dân Pháp, tôi càng thấy đau đớn, tức giận. Tôi có ý thức hơn về nỗi nhục mất nước. Mọi nhiệm vụ được trên giao cho, tôi không nề hà, không ngại gian khổ. Lý tưởng của tôi cũng rõ ràng hơn và mơ ước cũng lớn hơn.
Hồi bấy giờ, tôi mới tốt nghiệp y sĩ. Người dân tộc mà tốt nghiệp y sĩ của trường Pháp khi ấy còn ít lắm, cho nên được chúng rất ưu đãi. Nhưng sao tôi thấy những quyền lợi trước mắt ấy quá bé nhỏ, tầm thường. Tôi từ bỏ hết để đi theo cách mạng. Mang trong mình hình ảnh vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, tôi thấy tình cảm cách mạng của mình càng tha thiết nồng nhiệt hơn, trí tuệ minh mẫn hơn, lời nói của mình cũng có sức mạnh hơn. Hy vọng được gặp Bác cứ thấm dần trong con người, trở thành một nghị lực phi thường. Công tác tuyên truyền của tôi thu được nhiều kết quả tốt đẹp. Nhờ tham gia hội bóng đá, tôi được tiếp xúc với nhiều tầng lớp quần chúng và có uy tín, đặc biệt anh em trí thức người dân tộc đều hoan nghênh. Trong một tuần lễ, tôi tranh thủ được hết số trí thức công chức trong thị xã Buôn Ma Thuột.
Cách mạng thành công, tôi được trúng cử vào Quốc hội. Ước mơ được gặp Bác trở thành sự thật. Đã gần 20 năm qua rồi mà tôi vẫn không quên những cảm giác lần đầu tiên được gặp Bác, trong khóa họp Quốc hội lần thứ nhất, năm 1946. Biết tin được gặp Bác, suốt đêm tôi thao thức mong đợi. Cho đến khi được nắm bàn tay ấm áp của Bác, tôi vẫn ngỡ là mình đang mơ. Tôi cứ nắm tay Bác thật chặt, thật lâu. Hồi ấy, Bác gầy lắm, nhưng đôi mắt Bác thì sáng một cách kỳ lạ. Trán Bác cao và rộng, biểu hiện của một trí tuệ tuyệt vời. Bác nói thật giản dị và dễ hiểu: “Bác hoan nghênh các đại biểu dân tộc đã khởi nghĩa cùng một lúc với người Kinh. Các dân tộc đều đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh, đều tán thành điều lệ, đường lối của Việt Minh. Tất cả đều xác định được công việc mình làm là tốt, mang lại quyền lợi cho dân tộc mình. Các đại biểu Quốc hội đã có quyền tham gia công việc nước nhà mà trước đó không có. Ngày nay, nước Việt Nam là nước chung của người Kinh, người Thượng. Quốc hội là Quốc hội chung. Chính phủ là Chính phủ chung của cả nước. Từ nay về sau, công việc còn nhiều, khó khăn cũng còn nhiều, các dân tộc phải tiếp tục đoàn kết, đoàn kết với người Kinh để tiếp tục làm công việc của Việt Minh: chống kẻ thù xâm lược và nhất định sẽ đánh thắng chúng”.
Lời Bác nói đến đâu thấm đến đó. Tôi thấy Bác gần gũi với các dân tộc Tây Nguyên quá! Bác như một nhân vật hiện ra từ trong ước mơ của các dân tộc Tây Nguyên.
Tôi mang theo hình ảnh Bác với những lời dạy bảo quý báu của Người về Tây Nguyên, vừa sung sướng, vừa lo lắng: “Được gặp Bác, người to nhất nước nói việc lớn thế này không biết mình có làm được không?”. Sau đó, tôi trở về địa phương tiếp tục làm công tác dân vận. Một lần, tôi nói đã được gặp Cụ Hồ Chí Minh, Cụ Nguyễn Ái Quốc, người đã sáng lập ra Mặt trận Việt Minh, người lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa cướp chính quyền, thì nhân dân hết sức vui mừng. Nhân dân Tây Nguyên càng tin tưởng Bác Hồ qua những việc làm cụ thể của chính quyền mới. Đại biểu các dân tộc đều được trực tiếp tham gia công tác lãnh đạo trong tỉnh Đắk Lắk. Các ngành chuyên môn đều có người dân tộc tham gia. Các dân tộc đều được hưởng mọi quyền lợi kinh tế. Chế độ phu phen, tạp dịch, thuế khóa bất công đều bị xóa bỏ. Công chức người dân tộc được hưởng lương ngang với công chức người Kinh. Việt Minh thành lập các kho muối chung. Ở đâu cũng có kho muối. Các trường học được phát triển, con em các dân tộc không phải học tiếng Pháp nữa mà được học tiếng mẹ đẻ. Một số việc lớn của Mặt trận Việt Minh thực hiện sau ngày Tổng khởi nghĩa ấy càng củng cố thêm lòng tin của các dân tộc vào Bác Hồ, vào Đảng và Chính phủ. Đặc biệt, tỉnh Đắk Lắk đã trở thành tỉnh đi đầu về công tác mặt trận, làm công tác ở căn cứ và xây dựng cơ sở.
Đầu năm 1947, tôi có dịp được ra miền Bắc, làm công tác ở căn cứ địa kháng chiến, trong Thường vụ Quốc hội. Ít lâu sau, Bác đến thăm cơ quan tôi. Đây là lần thứ hai tôi được gặp Bác. Lần này, Bác đến bất ngờ, cả cơ quan không ai biết. Một ông cụ râu tóc bạc phơ, mặc bộ quần áo nâu; vừa nhìn thấy tôi, Bác hỏi ngay:
- Tên chú là gì nhỉ?
- Thưa Bác, cháu là Y Ngông, dân tộc Ê-đê, ra công tác ngoài này ạ.
Bác cười rất đôn hậu và nói:
- Cố gắng học tập, công tác tiến bộ nhé. Thế nào, ăn uống có tốt không? Chú khỏe chứ?
Tôi không hiểu sao Bác bận trăm công nghìn việc mà vẫn quan tâm đến những việc tỉ mỉ như vậy. Sau mỗi lần gặp Bác, tôi lại thấy mình lớn lên, muốn làm việc nhiều hơn, và mơ ước cũng lớn hơn. Tôi mong một ngày kia thống nhất, Bác vào miền Nam, Bác lên Tây Nguyên, núi rừng Tây Nguyên sẽ đón Bác với tất cả lòng tin tưởng kính yêu như đón một người cha đi xa lâu ngày về thăm con cháu.
Hơn 20 năm qua, các dân tộc Tây Nguyên luôn luôn hướng về Bác. Trong lòng người Tây Nguyên, Bác là ông sao sáng nhất trên trời, là bông hoa đẹp nhất trong rừng, là gạo trong ché, là muối trong ống. Bác là ngọn nguồn của hy vọng, mơ ước, nghị lực của nhân dân các dân tộc trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp trước kia và chống Mỹ hiện nay. Không phải mới hôm nay mà ngay từ những ngày đầu cách mạng, hình ảnh Bác Hồ đã in sâu trong trái tim của người dân Tây Nguyên.
Tôi còn nhớ một chuyện xảy ra năm 1949, Pháp vào một làng Ê-đê ở Đắk Lắk, chúng đem hai tấm ảnh, một ảnh Đác Giăngliơ và một ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, ra hỏi dân làng.
- Ai là Hồ Chí Minh, ai là Đác Giăngliơ?
- Người gầy gầy là ông Hồ Chí Minh, người mũi lõ là Đác Giăngliơ.
- Ai tốt, ai xấu?
- Ông Hồ Chí Minh tốt, Đác Giăngliơ xấu.
- Vì sao ông Hồ Chí Minh tốt?
- Vì Người lãnh đạo đánh thực dân Pháp, phát xít Nhật, đem lại hạnh phúc cho dân tộc chúng tôi. Thực dân Pháp là kẻ thù xâm lược.
Bọn chúng thất vọng. Hai khẩu liên thanh đặt hai bên đã dã man xả đạn như mưa vào quần chúng, giết hàng trăm người. Những người ấy ngã xuống nhưng trong tim vẫn nguyên vẹn hình ảnh vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc mình.
Câu hát “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn chúng em nhi đồng” của các em thiếu nhi miền xuôi cũng là tấm lòng của các em thiếu nhi Tây Nguyên đối với Bác.
Em Nai Peng, người dân tộc Gia-rai, làm liên lạc cho một cơ sở, chẳng may bị sa vào tay giặc. Chúng tra hỏi em:
- Có phải mày làm liên lạc cho cộng sản không? Em trả lời dõng dạc:
- Không, tôi chỉ là chăn trâu trong làng.
Thằng Tây tóm ngực áo em xé toạc ra. Một chiếc huy hiệu nhỏ xíu rớt xuống đất. Em xô đến chụp lấy. Đó là chiếc huy hiệu Bác Hồ em được thưởng trong một chuyến công tác. Em giấu chiếc huy hiệu Bác Hồ nơi túi áo trong, trên ngực. Thằng Tây giằng tay em ra, nhưng không được. Mấy lần huy hiệu rơi ra nhưng em giằng lại được. Thằng Tây đánh em dã man, càng đánh, em càng nắm chặt. Thằng Tây lấy lưỡi lê đâm vào tim em, máu trào ra. Em thản nhiên nhét huy hiệu vào chỗ vết thương, nhìn thẳng mặt kẻ thù.
*
* *
Trước ngày đi tập kết, những người cán bộ nào mắt đã được thấy Bác Hồ, tai đã được nghe lời Bác, tay đã được nắm tay Bác, và những cán bộ của làng sắp được gặp Bác Hồ, đều trồng mỗi người một cây ở trước cửa rừng vào làng. Hơn 10 năm rồi, những cây non của cán bộ Bác Hồ nay đã bén rễ sâu trong lòng đất, cành lá sum xuê giữa rừng núi Tây Nguyên. Người dân Tây Nguyên, trong những ngày đen tối nhất, thường ra đứng bên những gốc cây ấy. Và mỗi lần như vậy, họ lại cầm cái rựa vót chông sắc hơn, cái tay căng ná nhanh nhẹn hơn.
Từ ngày bắt đầu cuộc kháng chiến lần thứ hai chống Mỹ, cứu nước, thì quê hương của N’Trang Lơng, của anh hùng Núp lại trở thành căn cứ địa của cách mạng. Bọn Mỹ và tay sai đã giở nhiều thủ đoạn thâm độc đối với nhân dân Tây Nguyên. Chúng không bán muối, không bán vải, không bán thóc gạo cho đồng bào. Người dân Tây Nguyên lại đào củ mài thay gạo, lại đốt tro gianh thay muối, lại lột vỏ cây đóng khố, lại đẽo đá làm rìu rựa để sản xuất và chiến đấu. Nhân dân Tây Nguyên như đã phải lùi lại hàng vạn năm để đi tới tương lai: chủ nghĩa cộng sản. Hình ảnh của tương lai đẹp đẽ đó là những người cán bộ của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam. Họ bảo vệ và che chở những cán bộ ấy tự nhiên như hạt thóc che chở cho cái mầm của nó vậy.
Có lần, ở một làng nọ, bọn gián điệp phát hiện một cán bộ Mặt trận hoạt động trong làng. Bọn chúng mang lính đến vây bắt, nhưng lùng cả ngày vẫn không bắt được. Đến chiều, chúng bèn bắt 16 thanh niên. Chúng tập trung dân làng lại và trói 16 thanh niên vào 16 cây cột, hăm dọa:
- Lũ bay chỉ cần trả lời một tiếng “Có”, thì bọn tao sẽ tha hết 16 thằng này.
Mười sáu khẩu súng trường chĩa vào đám thanh niên, sẵn sàng bắn. Chúng hỏi:
- Có Việt cộng trong làng không? Tất cả đồng thanh:
- Không!
Một phát súng nổ.
- Có Việt cộng trong làng không?
- Không!
Một phát súng nổ.
Có Việt cộng trong làng không?
- Không!
Một phát súng nổ.
- Có Việt cộng ở trong làng không?
- Không!
Một phát súng nổ.
- Có Việt cộng trong làng không? Im lặng.
Chỉ thấy hàng nghìn đôi mắt đỏ hoe, rừng rực căm thù. Những bàn tay nắm lại. Những vồng ngực phanh ra, phập phồng. Những bắp thịt căng lên. Quần chúng trở nên sắt thép.
Bọn ác ôn lạnh gáy, buông một tiếng chửi: “Đồ mọi rợ cứng đầu cứng cổ!”, rồi chuồn thẳng không dám ngoái lại.
Đồng bào xô đến ôm chầm lấy bốn thanh niên bị bắn khóc nức nở.
Người Tây Nguyên có những câu hát rất hay:
Thiếu muối thì dân làng đốt tro gianh ăn thay được
Thiếu gạo thì đào củ sắn, củ môn
Nhưng thiếu cộng sản thì không lấy gì thay được.
Điển hình trong làng có một ông lão giữ kho muối 200kg trong bảy năm liền. Ông lão làm lều trong rừng để giữ muối. Đêm đêm, ông đốt lửa cho muối khô. Có những lúc cả làng đói muối, mấy đứa cháu ông lão cũng đói muối lâu ngày bị phù. Nhưng kho muối của ông lão vẫn không suy suyển một hạt. Đến năm 1961, bộ đội giải phóng đi qua, ông lão giao kho muối cho bộ đội: “Đây là kho muối của cán bộ Bác Hồ giao tôi giữ từ năm 1954, bây giờ tôi giao lại cho bộ đội giải phóng quân, để bộ đội có muối ăn mà đánh giặc”.
Tôi cứ muốn nói mãi về những tấm lòng của người dân Tây Nguyên đối với Bác Hồ. Lòng kính yêu Bác Hồ của nhân dân Tây Nguyên nhiều như cây rừng, cao như núi đá, dài như nước suối. Từng rễ cây rừng cũng muốn uống nước nguồn của Bác, từng lá cây trên núi cũng muốn đón gió ngàn của Bác. Trước kia, cả núi rừng Tây Nguyên đã theo Bác trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Ngày nay, núi rừng Tây Nguyên vẫn một lòng với lời dạy của Bác ngày trước, không chịu làm nô lệ, đứng lên làm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam. Cuộc chiến tranh yêu nước của nhân dân miền Nam đang đi vào giai đoạn quyết liệt nhất. Bọn đế quốc Mỹ không từ một thủ đoạn tàn ác nào đối với đồng bào Tây Nguyên. B52 của Mỹ đã dội xuống rừng núi Tây Nguyên hàng ngàn tấn bom, hàng vạn quả rốckét. Rừng núi Tây Nguyên đã bao lần nhiễm chất độc hóa học của Mỹ. Nhưng làm sao chúng khuất phục nổi nhân dân Tây Nguyên khi trong tim họ đã khắc sâu hình ảnh Bác Hồ.
Cái gì đã nảy nở trên rừng núi Tây Nguyên sau những trận mưa bom của B52, sau những trận càn man rợ, sau những đợt rải chất độc hóa học quy mô của Mỹ? Đó là những lá cờ tươi thắm của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam bay phấp phới trên những cây kơnia. Đó là những con suối đã tụ thành dòng sông lớn. Ủy ban Phong trào tự trị Tây Nguyên ra đời vào ngày sinh nhật Bác 19/5/1961 đã và đang lãnh đạo nhân dân Tây Nguyên kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đó là những khu giải phóng rộng lớn, căn cứ địa thần thánh của phong trào cách mạng giải phóng miền Nam. Đó là anh hùng Bi Năng Tắc, con chim đầu đàn của núi rừng Tây Nguyên trong phong trào chống Mỹ, cứu nước. Đó là đội giải phóng quân trùng trùng điệp điệp như măng mọc trong rừng sau những trận mưa rào mùa hạ. Đó là ý chí sắt đá của nhân dân Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến này. Họ sẽ cùng với đồng bào miền Nam và cả nước đánh Mỹ đến cùng, dù có đánh 5 năm, 10 năm, 20 năm hay hơn thế nữa, đời mình đánh chưa xong thì đánh đến đời con đời cháu mình nữa.
*
* *
Có sức mạnh nào cản nổi những dòng sông Tây Nguyên đổ về biển cả? Có sức mạnh nào cản nổi người dân núi rừng Tây Nguyên đi theo cách mạng? Không, không sức mạnh nào cản nổi nước sông Tây Nguyên đổ về biển cả. Không sức mạnh nào cản nổi các dân tộc Tây Nguyên đi theo cách mạng. Núi rừng Tây Nguyên luôn luôn thương nhớ và mãi mãi nghe theo Bác Hồ!
Bác sĩ Y Ngông Niêk Đam (dân tộc Ê-đê), in trong Nhớ ơn Người, Nxb. Văn hóa dân tộc,
Hà Nội, 1990.



