Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

NUÓC MẮT HIỆP HÒA

Nghệ An17/07/2026nguyễn thị xuân (Xã Tam Đồng, tỉnh Nghệ An)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

NƯỚC MẮT THANH NIÊN HIỆP HÒA

Tuổi trẻ là quãng thời gian rực rỡ nhất của sựu công hiến và lý tưởng .Chủ Tịch Hồ Chí Minh từng nói :”đâu cần thanh niên có ở đó có thanh niên”. Khi tôi viết lên câu chuyện này một cậu chuyện lấy đi bao nước mắt câu chuyện mà tôi không nghĩ đó là sự cống hiến sự mất mát quá lớn khi chỉ được công nhận là người có công chứ không được công nhận những anh hùng liệt sỹ .

Công trình thế kỷ

Sau cuộc khủng bố trắng Xô viết Nghệ Tĩnh – 1931, người Pháp cho xây dựng công trình ba ra, chặn sông Lam tại Đô Lương. Khi cần lấy nước, người ta đóng cửa lại, nước dâng lên, chảy theo sông đào, cấp nước cho Đô Lương, Diễn – Yên – Quỳnh và một ngả phụ từ Vòm Cóc chảy ra sông đào thuộc xã Nam Sơn. Hệ thống ba ra, sông đào này vừa tưới, tiêu úng, vừa điều hòa không khí và giải quyết giao thông lúc bấy giờ.

Nếu thời nhà Lê để lại Kênh Nhà Lê thì thời Pháp đây là công trình có dấu ấn thế kỷ với Xứ Nghệ. Hoàng thân Xuphanuvong, sau này là Chủ tịch Đảng, Nhà nước Lào tham gia thiết kế, xây dựng. Công trình hoàn thành vào năm 1936.

Sau chiến tranh, đói thiếu triền miên, nhưng được hít thở không khí hòa bình ai cũng hồ hởi, phấn khởi, tin tưởng. Chủ trương của tỉnh “nông nghiệp là mặt trận hàng đầu”, “thủy lợi là sự sống còn của nông nghiệp”. Cả tỉnh dồn sức trên các các công trình Vách Bắc, Kẻ Gỗ, Sông Nghèn,…; phải khơi thông sông đào, Vách Bắc… phải làm lại cống Hiệp Hòa để đưa nước ra Diễn – Yên – Quỳnh. Trên trời máy bay thả khẩu hiệu tuyên truyền; dưới đất cổ động náo nức trên khắp cả tỉnh,… ai ai cũng muốn góp sức mình vào trận tuyến “thay trời đổi đất, sắp xếp lại giang sơn”… Những bài ca đi cùng năm tháng “Người đi xây hồ Kẻ Gỗ”, “Công trường rộn tiếng ca”,… được phát suốt đêm ngày, khắp nơi.

Do bị bom Mỹ, do lâu ngày bị bồi lấp, cống Hiệp Hòa bị nghẽn. Đó là điểm chốt để hoàn thành công trình chào mừng Xuân mới Mậu Ngọ, chào mừng ngày thành lập Đảng 3-2-1978. Hàng nghìn người đào sâu xuống đáy sông, loại bỏ cống cũ để thay cống mới. Địa bàn chật hẹp. Đất gánh lên được đổ tạm hai bên sườn đồi, từ đáy sông lên đến hàng chục mét. Họ thay ca, say sưa đào, xúc, gánh. Sự hăng say đến mức khẩu phần ăn mỗi người chỉ một cái bánh mì luộc, họ vừa gánh đất vừa ăn để đua với thời gian…

Cống HIỆP HÒA

Cuối năm 1977, Tỉnh chủ trương nạo vét, sửa chữa sông Đào thuộc đầu mối hệ thống nông giang Đô Lương và mở rộng khai thông Cống Hiệp Hòa (Thuộc địa phận xã Hòa Sơn) do bom Mỹ đánh phá hư hỏng nặng, dòng chảy bị thu hẹp, lưu lượng nước không đủ cung cấp cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân. Để kịp có nước tưới cho vụ chiêm xuân, Tỉnh đã huy động 21.000 dân công, thanh niên xung phong của 7 huyện, cùng với sự hỗ trợ của bộ đội Quân khu 4 tham gia cải tạo công trình trong thời gian 01 tháng.


Tuy nhiên, khi công trình gần hoàn thành thì tai nạn đau lòng đã xảy ra vào trưa ngày 3/1/1978, hàng nghìn khối đất đá bất ngờ đổ sập làm 98 người tử nạn,hơn 100 người khác bị thương. Các anh, các chị ngã xuống chỉ mới mười sáu, đôi mươi, đang ở vào độ tuổi đẹp nhất của cuộc đời, với biết bao ước mơ, hoài bão. Những ngày sau đó, công trường làm việc trở lại trong không khí trầm lắng và đau thương. Những người còn may mắn sống sót, lau nước mắt để tiếp tục hoàn thành công việc trước Tết Nguyên đán. Cống Hiệp Hòa được hoàn thành, những cánh đồng lúa ở Đô Lương, Yên Thành, Diễn Châu, Quỳnh Lưu rồi cũng đón được những dòng nước mát. Đó là những dòng nước của sự hi sinh, mất mát được đánh đổi bởi xương máu của những chàng trai, cô gái ở tuổi thanh xuân.

Thảm họa kinh hoàng – Đại tang ở Cát Văn

Công trình chật hẹp, sức ép tiến độ, hàng nghìn người phải thay ca để làm cả ngày lẫn đêm. Mùa đông, trời rét. Thời đó cơm áo không như bây giờ nên càng rét hơn.

Người ta phải ngăn nước phía trên, đào hết phần đất phía dưới đến chỗ cống ngầm để đổ thêm cống, mở rộng dòng chảy. Hàng nghìn mét khối đất được gánh, được chuyền tay từ dưới sâu lên qua những bậc thang cao tới 70-80 mét, đổ sang hai bên vách núi.

11 giờ 50 phút ngày 3-1-1978, sau một tiếng động kinh hoàng do sập cống là tiếng la hét, tiếng kêu khóc náo loạn cả đất trời. Hàng trăm người bị vùi dưới lòng đất. Họ chết vì va đập, chết vì nghẹt thở. Hàng ngàn người hốt hoảng, lúng túng trước thảm họa bất ngờ. Công tác cứu hộ chỉ làm bằng thủ công: Bới bằng tay. Dùng cuốc vét sợ chạm vào người bị lấp. Ban chỉ huy công trường cấp báo với cấp trên, điều động lực lượng công an, quân đội, dân quân đến cứu…

Chỉ một số ít người nằm ngoài rìa chỗ sập chạy ra kịp; một số ít ở phía trên chạy kịp, còn nữa họ chôn vùi trong sự bất lực của lực lượng cứu hộ. Trong số đông, cũng có những sự hy hữu xẩy ra: Có người nhờ úp mặt vào chiếc mũ cứng, có chỗ thở; có người nhờ mái tóc dài lộ lên, được phát hiện và cứu sống...

Suốt ba ngày đêm cật lực, lực lượng cứu hộ mới đưa hết thi thể của anh em bị nạn lên bờ. Họ bị xây xát, bầm tím. Một số người còn nhai dở bánh mì luộc. Phần lớn còn rất trẻ, 18-20 tuổi. Trong số họ, có người đã có giấy báo nhập học, nhưng vì nhớ bạn, nên ở làm thêm để chứng kiến công trình hoàn thành. Có người đã có người yêu, dự định làm lễ cưới. Có những hoa khôi của làng, của xã, của công trường…

Quan tài khâm liệm của công trường là loại gỗ bình thường; khâm liệm xong người nào ghi danh sách, đánh số trên nắp quan tài, xếp thành từng hàng dài…

3 giờ sáng, ô tô chở 36 quan tài về hội quán xóm 3 Cát Văn, nơi gần Trạm trực tiếp của Viện Quân y 4 (một người phải đưa về sau vì chưa tìm được). Trước đó, các đảng viên được thông báo trước để làm công tác tư tưởng… Dân đến khóc lóc thảm thương. Họ dùng chòong, cạy nắp quan tài lên vừa nhìn mặt con, vừa kiểm tra có đúng không. Người ta bỏ gương, lược vô cho con. Có người nhét cả tấm vải, nói: công con nuôi lợn, đang cất để giành đến Tết… Thảm hại vô cùng.

Buổi chiều, một đám tang “vô tiền khoáng hậu” được cử hành. Người đông như kiến cỏ. Tiếng khóc não ruột của người thân. Nước mắt người già thương con trẻ vì “lá vàng ở lại, lá xanh ra đi”… Khi chiếc quan tài đầu tiên hạ huyệt bên núi Đụn, thì chiếc quan tài bên hội quán được nhấc lên…

Không có một văn bản, mệnh lệnh gì nhưng năm ấy, xã tôi không có Tết! Không ai nỡ đốt pháo khi cả xã chịu đại tang…Tết Mậu Ngọ - 1978, không thể nào quên được trong ký ức bao người

Chiếc am nhỏ đặt ở lưng chừng đồi nhắc lại sự đau thương của 98 thanh niên đã ngã xuống

Cha tôi từng kể :” năm đó cha 20 tuổi cha không tham gia trực tiếp công trình mà là mấy thanh niên xã nhà trong đó có mấy bạn của cha. Đang nằm ngủ ,một đêm kinh hoàng xảy ra khi nghe tin cống Hiệp Hòa bị sập cha không ngủ được ,cả làng không ngủ được vì có mấy người bạn của cha ở đó ,may mắn hơn các ông bạn ở phía trên chỉ bị lấp nửa người và thoát chết ,có ngững cô gái trong xóm cha bị vùi lấp trong đó xã Thanh Liên ta bị 11 người cả xã người nhà đi tìm ,đào bới tìm kiếm con mình nỗi mất mát kinh hoàng đó không ai không biết và đến bây giờ không ai quên kí ức đau thương đó.”

Ông Đinh VIẾT ÂN kể: lúc đó đang đứng làm nghe một tiếng ầm đất lấp đến cổ ông ,và may mắn đất dừng lại đến đó , ông bạn ông nữa PHAN ĐỨC HƯỜNG thì bị lấp đến ngực ......nỗi sợ kinh hoàng giờ còn mãi :” hôm đó thật khiếp khủng con ạ”

ông Đinh Viết Ân

ông Phan Đức Hường(bên trái) Nguyễn Hữu Hùng(bên phải)

Nay ở xóm Liên Đồng,xã Thanh Liên ,Huyện Thanh Chương ,tỉnh Nghệ An(nay là thôn Thanh Liên ,xã Tam Đồng) 11 người con gái trong số 98 người con đã mất được chôn cất ở gần đập Cao Điền nay đã được xây dựng lại rất khang trang và sạch sẽ gọi là nghĩa trang Hiệp Hòa . Đoàn thanh niên ,các trường học ,các nghành của xã nhà vẫn thường xuyên đến vệ sinh ,quét dọn sạch sẽ và thắp hương tưởng nhớ cho 11 cô gái ấy ,11 cô gái hi sinh tuổi thanh xuân con dang dở sự nghiệp và tương lai .


Một số hình ảnh đoàn thanh niên làm hàng năm đến vệ sinh và thắp hương tưởng nhớ

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn